Liên Minh Các Lực Lượng Quốc Gia Việt Nam

Liên Minh SVN
 
CổngCổng  Trang ChínhTrang Chính  CalendarCalendar  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng NhậpĐăng Nhập  Đăng kýĐăng ký  Diễn Đàn VBBDiễn Đàn VBB  Sách HiếmSách Hiếm  
http://matcuoi.comhttp://matcuoi.comhttp://matcuoi.comhttp://matcuoi.comChào các bạn chúc một ngày vui vẻ ! Dân tộc Việt Nam muôn năm !Diễn đàn đã chuyển qua đây http://www.lienminhsvn.co.cc http://sachhiem.net !http://matcuoi.comhttp://matcuoi.comhttp://matcuoi.comhttp://matcuoi.com

Đồng hồ

Hanoi

Địa chỉ web
Sách Hiếm Quân Đội Công An Công An Chính Phủ Quốc Hội Đảng Cộng Sản Viện Kiểm Sát Đảng Cộng Sản Bộ Giáo Dục Bộ Y Tế
Thông báo !
Sun Apr 11, 2010 11:26 am by -=SVN=-
Thông báo ! Các bạn muốn làm admin thì hãy đăng kí vào trong này rồi tuần sau tôi sẽ cho lên hết !
Các bạn hãy đóng góp cho diễn đàn này !

Comments: 0
October 2018
MonTueWedThuFriSatSun
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
293031    
CalendarCalendar
Top posters
-=SVN=-
 
ThanhKhoa
 
tuquynh
 
Admin
 
qwerty68
 
kimerajamm
 
lavivi
 
moonlight172
 
chuongtk
 
gianggiangonline
 
Latest topics
Thống kê
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Thống Kê
Hiện có 2 người đang truy cập Diễn Đàn, gồm: 0 Thành viên, 0 Thành viên ẩn danh và 2 Khách viếng thăm

Không

Số người truy cập cùng lúc nhiều nhất là 17 người, vào ngày Thu Jul 18, 2013 10:13 pm

Share | 
 

 Tâm Thư Gửi Nhà Nước Việt Nam

Go down 
Tác giảThông điệp
-=SVN=-
Tổng Tư Lệnh
Tổng Tư Lệnh
avatar

Biệt danh : Đại Tướng
Chức Vụ : Chủ Tịch

Tổ chức
Huân chương
Cống hiến : 307
Đồng : 100751
Vinh danh : 3
Gia nhập : 22/03/2010

Dân tộc : Việt Nam
Phương châm : Yêu trong không tiền !

Bài gửiTiêu đề: Tâm Thư Gửi Nhà Nước Việt Nam   Mon Mar 22, 2010 6:48 pm

Tâm Thư Gửi Nhà Nước Việt Nam

Nguyễn Mạnh Quang

bản in ¿ trở ra mục lục



Nguyễn Mạnh Quang

Washington, U.S.A

Tacoma ngày 16/2/2009


Kính Gửi :

- Ông Chủ Tịch nhà nước Nguyễn Minh Triết

- Ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng

- Ông Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh

- Ông Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Phú Trọng





Thưa quý Ngài,



Với tư cách là một người Việt Nam có nhiều năm nghiên cứu lịch sử chính trị của nước nhà trong giai đoạn cận đại, trân trọng gửi tâm thư này lên quý Ngài để nói lên mối ưu tư của cá nhân tôi và một số người nặng lòng với đất nước về vấn nạn Giáo Hội La Mã mà hiện nay chính quyền và dân tộc ta đang phải đối phó.

Cũng như nhiều người Việt đã sinh sống ở Hoa Kỳ từ nhiều năm, cá nhân tôi luôn luôn hướng về quê hương và mong muốn cho nước nhà được ổn định và giầu mạnh tiến lên sánh vai cùng với các nước tiên tiến ở trên thế giới như Nhật Bản, Anh, Nga, Đức, Pháp, Trung Hoa, Hoa Kỳ, v.v… Vì lẽ này mà những tin vui như Việt Nam được bầu làm hội viên trong Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc trong nhiệm kỳ 2007-2009, được gia nhập Tổ Chức Thương Mại Quốc Tế, được ủy nhiệm tổ chức Hội Nghi OPEC, được giao phó cho tổ chức đại lễ VESAK 2008 ở Hà Nôi, và được ủy nhiệm tổ chức hoa hậu thế giới 2008 ở Nha Trang, tất cả đã làm cho chúng tôi vô cùng sung sướng và hết sức hãnh diện.

Ngược lại, chúng tôi không khỏi bức xúc và âu lo khi được biết một số giáo sĩ xúi giục giáo dân cùng nhau "hiệp thông cầu nguyện" với các dụng cụ như xà beng, búa kìm đập tường phá cổng xâm nhập bất hợp pháp vào công sở và cơ sở tư nhân để chiếm đất, cắm thập tự, và dựng ảnh tượng Bà Maria bừa bãi ở khắp nơi.

Càng đe dọa hơn nữa khi các hàng giáo phẩm và giáo dân chỉ biết tuân lệnh Tòa Thánh Vatican, mà lại khinh thường chính quyền Việt Nam và bất chấp luật pháp quốc gia. Những thái độ và hành động này được thể hiện trong những bài giảng trong nhà thờ, các bài viết đăng tải trên các mạng điện tử, và ngay cả trong các văn thư trao đổi với chính quyền.

Thưa quý Ngài,

Cũng vì lòng mong muốn cho nước nhà được ổn định và giầu mạnh, nên chúng tôi rất phẫn nộ khi thấy rằng Vatican, một mặt dồn nỗ lực vào việc vận động thiết lập bang giao với Việt Nam, mặt khác thì họ lại sử dụng giới giáo sĩ và giáo dân người Việt (vốn đã xa rời truyền thống văn hóa cổ truyền, tự tách khỏi lòng dân tộc) để chống phá chính quyền, và càng ngày càng trịch thượng. Tiêu biểu cho sự kiện này là thái độ của Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt, linh mục Vũ Khởi Phụng, và những giáo sĩ khác trong vụ nổi loạn ở Thái Hà đã biểu hiện trong năm qua (2008).

Tất cả những thủ đọan gian manh và hành động của họ khiến cho chúng tôi cảm thấy lo sợ cho Tổ Quốc ta lại một lần nữa bị Vatican đánh phá. Dã tâm của họ là làm cho đất nước ta trở thành bất ổn, rối loạn trong xã hội, để rồi lấy đó làm lý do vận động ngoại cườngcan thiệp bằng cách:

- hoặc là trực tiếp, dùng với giáo dân bản địa, nội ứng ngoại hợp, cướp chính quyền như họ đã làm hồi thế kỷ 19,

- hoặc là tạo sức ép khiến cho chính quyền ta phải nhượng bộ để họ có thể đưa người của họ lên nắm chính quyền, như họ đã làm giữa năm 1954 để đưa Ngô Đình Diệm lên cầm quyền.

Vì bức xúc và ưu tư như vậy, chúng tôi cố gắng biên soạn tâm thư này đạo đạt lên quý Ngài với hy vọng đóng góp một phần nào trong việc tìm hiểu:

1.- Một số bài học kinh nghiệm về những thủ đoạn của Nhà Thờ Vatican về sách lược:

a.- Trèo cao lặn sâu vào các cấp lãnh đạo chính quyền từ trung ương xuống tới địa phương, kể cả các phương tiện truyền thông.

b.- Đoàn ngũ hóa tín đồ địa phương rồi tổ chức họ thành những đạo quân thứ 5 và sử dụng họ gây bạo lọan, phá rối an ninh trật tự, lật đổ Nhà Nước để cướp chính quyền.

2.- Những kinh nghiệm về các phương cách giải trừ vấn nạn Nhà Thờ Vatican mà chính quyền và nhân dân Anh, Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Nhật, Trung Hoa, Mỹ, Mễ Tây Cơ, Cuba, Nicaragua, Nga, Do Thái và rất nhiều quốc gia khác đã phải đương đầu đối phó.

Trận trọng kính mong quý Ngài cứu xét và phổ biến sâu rộng tài liệu tâm thư này để cho nhân dân ta cũng nhìn thấy rõ vấn nạn Vatican trầm trọng đến mức nào.





Trân trọng,

Nguyễn Mạnh Quang





xem tiếp: Nội Dung






--------------------------------------------------------------------------------

Những bài viết quanh việc Vatican muốn thiết lập ngoại giao với Việt Nam:


Bang Giao "Bắc Kinh-Vatican" (?) Một Kinh Nghiệm Quý Giá Cho Việt Nam (Trần Chung Ngọc)
Bang giao với Vatican – Một thách thức sinh tử (Phạm Phú Bổn)
Chuyến "Đi Đêm" của Vatican Đến Việt Nam (Nguyễn Minh Tâm)
Dòng Tên (JESUIT) Tốt Hay Xấu ? (Vương Vũ)
Giáo Hoàng Chỉ Không Lầm Lẫn Về Tín Lý ? (Vương Vũ)
Hurray! Hồi Đáp Email Một Giáo Dân Gia-Tô (Thiên Lý)
Hồi Đáp Email Một Giáo Dân Gia-Tô (Nguyễn Minh Tâm)
Nhân Chuyến Công Du Mỹ... (Hoàng Nguyên Nhuận)
Quanh vụ Vatican viếng thăm (Trần Công Lý)
Thế Giới Email: Xầm Xì Về Trần Chung Ngọc (Thiên Lý)
TT: Thư Gửi Nhà Nước Việt Nam (Nguyễn Mạnh Quang)
Việt Nam Cần Thưc Hiện Những Biện Pháp Mạnh.. (Charlie Nguyễn)
Vài Ý Kiến Về Vấn Đề Bang Giao Với Vatican (Trần Chung Ngọc)
Vài Ý Kiến Với GH Công Giáo La Mã và VN (Vương Vũ)
Vấn Đề Bang Giao (Phú Nguyễn)
Vụ Phái Đoàn Đế Quốc VaTican Qua VN (Tiến Trần)






Ý kiến về việc Vatican "viếng thăm" Việt Nam"

Xin mời nghe buổi thảo luận: "Việt Nam Có Nên Bang Giao Với Vatican Hay Không ?" do Việt Nam Ngày Nay Radio thực hiện ngày 15 tháng 2, 2009.



email: Vài Ý Kiến Với GH Công Giáo La Mã và VN (Vương Vũ)
Web cá nhân: Chiến dịch Giáo Hoàng
email: Chuyến "Đi Đêm" của Vatican Đến Việt Nam (Nguyễn Minh Tâm)
email: Hurray! Hồi Đáp Email Một Giáo Dân Gia-Tô (Thiên Lý)
Hồi Đáp Email Một Giáo Dân Gia-Tô (Nguyễn Minh Tâm)

email: Vấn Đề Bang Giao (Phú Nguyễn)
email: Vụ Phái Đoàn Đế Quốc VaTican Qua VN (Tiến Trần)
email: Quanh vụ Vatican viếng thăm (Trần Công Lý)
Bang giao với Vatican – Một thách thức sinh tử (Phạm Phú Bổn)
VietNam NgayNayRadio: "Việt Nam Có Nên Bang Giao Với Vatican Hay Không ?"







































Trang Nguyễn Mạnh Quang
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
-=SVN=-
Tổng Tư Lệnh
Tổng Tư Lệnh
avatar

Biệt danh : Đại Tướng
Chức Vụ : Chủ Tịch

Tổ chức
Huân chương
Cống hiến : 307
Đồng : 100751
Vinh danh : 3
Gia nhập : 22/03/2010

Dân tộc : Việt Nam
Phương châm : Yêu trong không tiền !

Bài gửiTiêu đề: Re: Tâm Thư Gửi Nhà Nước Việt Nam   Mon Mar 22, 2010 6:49 pm

Tâm Thư Gửi Nhà Nước Việt Nam

Nguyễn Mạnh Quang

bản in ¿ trở ra mục lục 29 tháng 3, 2009

Lời Giới Thiệu

Nếu Thiên Chúa Giáo thuần túy chỉ là một nhóm người cùng một niềm tin không liên hệ đến an sinh của cộng đồng thế giới, thì cho dù họ có những niềm tin không tưởng hay mê muội đến mấy đi chăng nữa, cũng chẳng ai quan tâm. Chẳng cần phải là Phật tử, một người hiền lương bình thường nào cũng thế, chẳng ai nên và chẳng ai mất công bình phẩm những điều tiêu cực với những người có tôn giáo khác. Khắp nơi trên trái đất này, có thiếu chi những tôn giáo với những nghi lễ và những niềm tin kỳ lạ cũng chẳng có ai bận lòng chỉ trích. Quyền tự do tín ngưỡng là thế. Ai tin gì thì tin, miễn đừng xâm phạm đến các quyền tự do của những người khác dưới bất cứ hình thức nào.

Nhưng tại sao chỉ có Thiên Chúa Giáo, và nhất là Thiên Chúa Giáo La Mã xưa nay vẫn là đề tài cho biết bao nhiêu học giả, triết gia, khoa học gia, giáo sư đại học, văn sĩ,... ngay cả các linh mục, tu sĩ của chính tổ chức họ cũng nỗ lực vạch trần những tội ác, chống lại những hành động của Giáo Hội La Mã (GHLM) ? Trong câu hỏi đã có câu trả lời. Có tội ác, có giấu giếm, có đàn áp,..., thì mới có việc vạch trần.

Thời Trung cổ, những người có can đảm chống lại GHLM, một thế lực bao trùm thế giới, bằng những tuyên bố khoa học, bằng những bài viết phản lại niềm tin, đều bị GHLM đàn áp và bách hại hết sức dã man. Họ đã từng bị GHLM thiêu sống. Mức độ đàn áp càng nhiều và càng dã man, thì sự nung nấu chống lại càng mãnh liệt. Một niềm tin, một tôn giáo đã đem lại kinh hoàng cho thế giới cả mấy ngàn năm như thế có phải là tôn giáo theo nghĩa thường của người Á Đông ta không?

Ngày nay, càng ngày trình độ dân trí càng được nâng cao, sự tàn độc dã man của GHLM cũng đã bị các tư tuởng dân chủ lên án. Các thế lực tay sai hay đồng minh của GHLM ở Âu Mỹ đã suy yếu, nên phương cách đàn áp (nếu có thể) đã thay đổi trong sách lược và trở nên quỷ quyệt hơn, tinh vi hơn.. Có thể nói là mưu chước của GHLM càng khôn khéo đối với những nơi chưa biết nhiều về lịch sử ghê tởm của họ. Đó là những nơi xa xăm (so với Âu châu), những nước nhược tiểu, dân chúng không được no đủ miếng ăn áo mặc, nói chi đến học vấn, suy lý hay những gì thuộc lãnh vực trí óc.

GHLM không còn có thể sử dụng cái giàn hỏa thiêu và những bó củi như xưa, cho nên chính sách "cai trị" của GHLM đã chuyển sang "dụ dỗ". Chiêu bài này luôn luôn công hiệu đối với những đứa con mồ côi, những dân nghèo, thiếu phương tiện, những thanh thiếu niên thèm được du học nước ngoài,... Đây là tất cả những cơ hội ngàn vàng cho GHLM ra tay "nghĩa hiệp" để sau đó sẽ rửa tội cho vào công dân Vatican. Một niềm tin, một tôn giáo bao giờ cũng lo sốt vó chạy đôn chạy đáo để dụ dỗ từng "linh hồn" như thế có phải là tôn giáo theo nghĩa bình thường của người Á Đông ta không?

Như thế, vạch ra những "thành tích tội ác" của kẻ gian ác đang mặc áo tu hành cho những người "chưa từng biết, chưa từng nghe," để họ "cũng được nghe, cũng được biết" như những người dân Âu Châu có phải là việc "chia rẻ" tôn giáo hay là "nâng cao dân trí" và phòng ngừa con bệnh mê muội? Tại sao dân ta không được biết những điều thế giới văn minh có quyền biết? Mong rằng những lời chia sẻ này được đón nhận như một thông tin cần thiết cho tri thức của người dân nước ta. (SH)



kính mời đọc Sơ Lược Nội Dung




Trang Nguyễn Mạnh Quang
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
-=SVN=-
Tổng Tư Lệnh
Tổng Tư Lệnh
avatar

Biệt danh : Đại Tướng
Chức Vụ : Chủ Tịch

Tổ chức
Huân chương
Cống hiến : 307
Đồng : 100751
Vinh danh : 3
Gia nhập : 22/03/2010

Dân tộc : Việt Nam
Phương châm : Yêu trong không tiền !

Bài gửiTiêu đề: Re: Tâm Thư Gửi Nhà Nước Việt Nam   Mon Mar 22, 2010 6:51 pm

Tâm Thư Gửi Nhà Nước Việt Nam

Nguyễn Mạnh Quang

bản in ¿ trở ra mục lục 29 tháng 3, 2009

- Lời Giới Thiệu -



NỘI DUNG

Vào đề

Phần I: Việt Nam phải dứt khoát không bang giao với Vatican

Chương 1: Tổng quát về chủ trương và chính sách của Giáo Hội La Mã.

Chương 2: Việt Nam không nên thiết lập bang giao với Vatican.

Phần II: Chủ trương thống trị toàn cầu và nô lệ hóa nhân loại của Vatican

Chương 3: Chủ trương thống trị toàn cầu và nô lệ hóa nhân loại của Vatican.

Chương 4: Chủ Trương và kế họach của Vatican đánh chiếm Việt Nam.

Chương 5: Vatican nỗ lực thuyết phục Pháp cấu kết với Vatican đánh chiếm Việt Nam.

Chương 6: Những động lực hay lý do khiến cho người Việt Nam theo đạo Ca-tô.

Chương 7: Nhưng nét độc đáo trong Thiên Chúa La Mã.

Chương 8: Tín đồ Ca-tô bản địa được Vatican rèn luyện như thế nào?

Chương 9: Dã tâm của chính sách đào tạo người the tinh thần công giáo của Vatican.

Chương 10: Hậu quả của chính sách đào tạo người của Vatican.

Chương 11: Địa vị và tội ác của giáo dân người Việt đối với tổ quốc và dân tộc.

Chương 12: Sự khác nhau giữa giáo dân Âu Châu và giáo dân người Việt

Phần III.- Kế sách trèo cao lặn sâu của Vatican vào giới lãnh đạo nhà nước tại các quốc gia đối tượng.

Chương 13: Những hành động tham tàn và man rợ của Nhà Thờ Vatican.

Chương 14: Lòng căm phẫn của nhân dân thế giới đối với Nhà Thờ Vatican.

Chương 15: Cuộc chiến chống Vatican của người Anh và kế sách của Vatican xâm nhập vào giai cấp lãnh đạo nước Anh.

Chương 16: Cuộc chiến chống Vatican của dân Pháp và kế sách của Vatican xâm nhập vào giai cấp lãnh đạo nước Pháp.

Chương 17: Kế sách trèo cao lặn sâu và dùng tín đồ để gây bạo loạn chống lại tổ quốc và dân tộc Việt Nam.

Phần IV: Những phương cách của nhân dân thế giới chống lại Giáo Hội La Mã.

Chương 18: Các nước Ý, Đức, Nga, Tiệp Khắc, Tây Ban Nha và Ba Lan chống Vatcan.

Chương 19: Các dân tộc Hoa Kỳ, Mễ Tây Cơ, Cuba và Nicaragua chống Vatican.

Chương 20: Các dân tộc Nhật Bản, Trung Hoa và các dân tộc khác chống Vatican.

KẾT LUẬN





--------------------------------------------------------------------------------

VÀO ĐỀ


--------------------------------------------------------------------------------



Đọc lịch sử thế giới và lịch sử Giáo Hội La Mã, chúng ta thấy Giáo Hội La Mã quả thực là một tổ chức tội ác nắm trọn quyền lực chuyên chính về cả tôn giáo lẫn chính trị bao trùm gần kín lục địa Âu Châu và các vùng ven Biển Dịa Trung Hải trong suốt chiều dài lịch sử từ thế kỷ 4 cho đến cuối thế kỷ 18 và ở các thuộc địa của các đế quốc Bồ Đạo Nha, Tây Ban Nha, Pháp và Bỉ ở khắp năm châu bốn bể từ giữa thế kỷ 15 cho đến cuối thế kỷ 20. Tổ chức tội ác này đã sử dụng cả hàng rừng thủ đoạn siêu việt về lường gạt và bịp bợm, siêu viêt về thâm độc, siêu việt về gian tham và tàn ngược để duy trì và củng cố quyền lực.

Quyền lực sinh ra tội ác. Quyền lực càng nhiều và nắm quyền càng lâu thì tội ác càng nặng và càng nhiều. Giáo Hội La Mã là một thế lực có quá nhiều quyền lực và lại nắm quyền trong một thời gian dài như vậy thì tất nhiên tội ác của cái thế lực này phải thật là vô cùng ghê gớm. Có thể nói rằng tội ác chống lại nhân loại của Giáo Hôi La Mã gồm toàn những trọng tội trùng trùng vào cao chất ngất như hàng chục rặng núi Hy Mã Lạp Sơn. Giáo Hội La Mã ở vào trường hợp này và gồm những tội danh như sau:

1.- Sử dụng hệ thống tín lý Ki-tô để mê hoặc, phỉnh gạt, lừa bịp, hù dọa và khủng bố tinh thần người đời.

2.- Nhân vơ và mạo nhận là đại diện duy nhất của Thượng Đế ở trên thế gian này

3.- Kìm hãm nạn nhân mãi mãi ở trong tình trạng ngu dốt bằng chính sách ngu dân và nhồi sọ để dễ bề sai khiến đúng theo sách lược “dân ngu dễ trị”.

4.- Biến tin đồ thành những hạng người mất hết nhân tính khiến cho họ không còn những tình cảm và tình yêu hồn nhiên và thiêng liêng đối với những người thân thương trong gia đình và đối với tổ quốc qua lời dạy của ông Jesus trong Matthew (10:34-37), của Giáo Hoàng Paul IV (1559-1565) “Nếu bố tôi là dị giáo đồ tôi sẽ chụm củi đốt sông ông ta luôn” và của Giáo Hội.

5.- Lừa dối người đời, ăn gian nói dối, quay quắt, lắt léo, lươn lẹo, lật lọng, trở tráo, ăn không nói có, đổi trắng thay đen.

6.- Nêu gương sống đời dâm ô trụy lạc, loạn dâm, loạn luân, phi luân, bất nhân, bất tín và bất nghĩa.

7.- Cướp đoạt tài nguyền và cưỡng chiếm hữu bất động sản của các quốc gia nạn nhân.

8.- Áp bức và bóc lột các dân tộc nạn nhân vơ vét và tích lũy của cải cho đầy túi tham.

9.- Tra tấn và hành hạ các nạn nhân một cách cực kỳ man rợ.


10.- Độc ác và bạo ngược và đã tàn sát tới gần ba trăm (300) triệu nạn nhân.

Mỗi một tội danh trên đây là một rặng núi tội ác, gom lại thành 10 rặng núi tội ác, gọi chung là 10 rặng núi tội ác chống nhân loại.

Lẽ tất nhiên, tội ác chống lại nhân lọai càng nhiều thì lòng căm phẫn và thù ghét của nhân dân thế giới đối với Giáo Hội La Mã càng chất chứa và tích lũy trong lòng mãnh liệt và bốc lên đến tận trời xanh, và chỉ chờ có hội thuận tiện là biến thành con bão lửa thiêu rụi cả toàn bộ nền tảng tín lý Ki-tô và tất cả những thành trì bảo vệ khiến cho Giáo Hội không còn nơi nương tựa và cũng không còn có thế lực nào đứng ra che chở cho nữa. Và cuối cùng tự nó sẽ rơi vào tình trạng rã ngũ tan hàng giống y hệt như chính quyền bù nhìn và đao quân đánh thuê do Mỹ và Vatican dựng nên ở miền Nam Việt Nam đã tan rã vào những ngày chót của tháng 4 năm 1975.

Tòa Thánh Vatican cũng biết như vậy. Cho nên trong hơn 10 năm gần cuối cuộc đời, Giáo Hoàng John Paul II đi đến bất kỳ quốc gia nạn nhân nào của Giáo Hội cũng xin lỗi lia lịa, tính ra có tới hơn 100 lần, rồi chính Ngài lại cho tổ chức một buổi đại lễ vô cùng trọng thể tại Quảng Trường Peter và buổi sáng ngày Chủ Nhật 12/3/2000 để chính Ngài và các vị chức sắc cao cấp trong giáo triều Vatican chính thức đứng ra cáo thú tội ác với Chúa và với nhân dân thế giới trước sự chứng kiến trực tiếp của hàng triệu khán thính giả tại Quảng Trường Peter và hàng trăm triệu khán thính giả khác qua các các màn ảnh truyền hình ở khắp mọi nơi trên thế giới.


Những tưởng rằng, với những hành động xin lỗi các quốc gia nạn nhân của Giáo Hoàng John Paul II và hành động cáo thú tội ác công khai với Chúa giữa thanh thiên bạch nhật của giáo triều Vatican trước hàng trăm triệu khán thính giả như vậy, thì Vatican đã biết ăn năn hối lỗi và phục thiện, nhưng đáng buồn là “ngựa vẫn quen đường cũ” và Vatican vẫn chứng nào tật ấy.

Người Trung Hoa có câu nói “giang sơn dị cải, bản chất nan di”. Cái bản chất phỉnh gạt, lừa bip, xấc xược, ngược ngạo, tráo trở, lươn lẹo, thay hình đổi dạng khi thì đóng vai hiền lành như con cừu, khi thì qủy quyệt, tinh ma, lưu manh như một con cáo giả và khi thì hung bạo, dã man như con cọp đói của Giáo Hội quả thật là bất trị, không thể nào sửa đổi được (nan di). Bằng chứng là từ nhiều năm nay chính quyền và nhân dân Việt Nam đã phải đối phó với Nhà Thờ Vatican về những thủ đoạn dùng các đạo quân thứ 5 để gây rối loạn chuẩn bị cho kế sách cướp đoạt chính quyền bằng những chiều bài đòi cướp lại những bất động sản (đã bị chính quyền quốc hữu hóa từ giữa thập niên 1950) là những khoản tài sản mà Vatican đã cưỡng chiếm của dân ta trong thời Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican đánh chiếm và thống trị Việt Nam 1862-1945 và bằng nhiều quái chiêu khác. Bằng chứng rõ ràng nhất cho cái bản chất ghê tởm này của Nhà Thờ Vatican là thái độ, lời nói và hành động ngang ngược của họ trong thời gian vừa qua với những vụ:

1.- Việc Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt xúi giục con chiên nổi loạn đánh phá tòa nhà công quyền tại số 142 Phố Nhà Chung, Hà Nội trong thời gian từ 18/12/2007 cho đến ngày 30/1/2008 với chiều bài đòi chiếm lại khu đất này cho Vatican.

2.- Việc ông tổng giám mục này cùng với các Linh-mục Vũ Khởi Phụng, Nguyễn Văn Khải, Nguyễn Ngọc Nam Phong, Nguyễn Văn Thật, Nguyễn Hữu Vinh xúi giục một số giáo dân cuồng tín gây bạo loạn phá tường tràn vào chiếm đóng Công ty may Chiến Thắng tại số 180 Đường Nguyễn Lương Bằng (Phường Đống Đa, Hà Nội) từ ngày 18/8/2008 cho đến nay (30/8/2008).

3.- Thái độ và lời lẽ ngang ngược (coi giáo luật đứng trên luật pháp Việt Nam)trong văn thư số 10/GHVN đề ngày 25/9/2008 của Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Nhơn (chủ tịch Hồi Đồng Giám Mục Việt Nam) trả lời văn thư số 1437/UBND-NC ngày 23/9/2008 của ông Nguyễn Thế Thảo (chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hà Nội).

4.- Thái độ và lời lẽ ngang ngược (coi giáo luật đứng trên luật pháp Việt Nam)trong lá thư phúc đáp của Tỉnh Dòng Cứu Thế Việt Nam đề ngày 19/12/2008 gửi ông Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hà Nội.

5.- Vụ dựng tượng Bà Maria ở xã An Bằng (Huế) kéo dài từ đầu năm 2008 cho đến ngày nay (Tháng 1/2009).

Tất cả bằng chứng này cho thấy rõ là (1) các ông tu sĩ và giáo dân Ca-tô người Việt vẫn còn triền miên trong cơn mê mơ về nước Chúa mà cứ ngỡ rằng Việt Nam hiện nay là "Nước Cha trị đến" nằm dưới quyền thống trị của Nhà Thờ Vatican giống như ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 và họ vẫn tiếp tục đi sâu vào con đường tội ác chống lại dân tộc và tổ quốc Việt Nam, và (2) Nhà Thờ Vatican vẫn còn theo đuổi chính sách sử dụng tu sĩ và giáo dân người Việt trong mưu đồ đánh phá chính quyền và đất nước Việt Nam để đưa dân ta vào cái tròng Ca-tô (Catholic loop) để siết cổ mà các dân tộc Âu Châu đã phải tốn không biết bao nhiêu công lao mồ hôi, nước mắt và xương máu của biết bao nhiêu thế hệ trong suốt chiều dài gần hai ngàn năm mới giải thoát được.

Với kinh nghiệm của một người theo đuổi ngành sử học, dạy môn sử tại các trường trung học ở Việt Nam cũng như ở Hoa Kỳ liên tục từ niên khóa 1964-1965 cho đến niên khóa 1996-1977 và đã tìm hiều lịch sử Vatican về những hành động lấn chiếm tiếm đoạt chính quyền ở các nước Âu Châu và nhiều nơi khác trên thế giới từ thời Trung Cổ cho đến ngày nay, chúng tôi cố gắng chọn lọc một số những đoạn văn trong bộ sách Lịch Sử và Hồ Sơ Tội Ác Của Giáo Hội La Mã (đang biên soạn gần xong) gom lại và sắp xếp thành tập sách nhỏ này với hy vọng giúp cho chính quyền Việt Nam hiện nay và nhân dân ta ở trong nước cũng như ở hải ngoại có thể:

a.- Nhìn thấy dã tâm của Vatican trong những thủ đoạn sử dụng tu sĩ và tín đồ Ca-tô người Việt để bạo loạn tạo cơ hội thuận tiện hầu nhẩy lên cướp chính quyền rồi thiết lập chế độ đạo phiệt Ca-tô để thi hành chính sách Ki-tô hóa bằng bạo lực như (1) ở Âu Châu trong thời Trung Cổ, (2) ở Tây Ban Nha trong những năm 1936-1975 dưới quyền tên bạo chúa Francisco Franco (1892-1975), (3) ở Croatia trong những năm 1941-1945 dưới quyền tên bạo chúa Ante Pavelich, (4) ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 đưới quyền tên bạo chúa tam đại Việt gian Ngô Đình Diệm và tên quân phiệt Ca-tô Nguyễn Văn Thiệu, và (5) ở Rwanda (Phi Châu) trong năm 1994.

b.- Rút được kinh nghiệm về những bài học sử dụng những biện pháp mạnh đối phó với Vatican để diệt trừ hậu họa.

Ôn cố để tri tân. Mong rằng tập tâm thư này sẽ được coi như là một phần đóng góp nhỏ mon của người viết bằng những bài học lịch sử về những thủ đoạn và những quái chiêu mà Vatican thường sử dụng để tiếm đoạt chính quyền và cũng là những bài học lịch sử về những biện pháp mạnh của các nước trên thế giới đối phó với Giáo Hội La Mã.



Nguyễn Mạnh Quang

xem tiếp: Tổng quát về Chủ trương của Giáo Hội La Mã




Trang Nguyễn Mạnh Quang
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
-=SVN=-
Tổng Tư Lệnh
Tổng Tư Lệnh
avatar

Biệt danh : Đại Tướng
Chức Vụ : Chủ Tịch

Tổ chức
Huân chương
Cống hiến : 307
Đồng : 100751
Vinh danh : 3
Gia nhập : 22/03/2010

Dân tộc : Việt Nam
Phương châm : Yêu trong không tiền !

Bài gửiTiêu đề: Re: Tâm Thư Gửi Nhà Nước Việt Nam   Mon Mar 22, 2010 6:54 pm

Tâm Thư Gửi Nhà Nước Việt Nam

Nguyễn Mạnh Quang

bản in ¿ trở ra mục lục 29 tháng 3, 2009


PHẦN I

THIẾT LẬP BANG GIAO VỚI VATICAN
LÀ MỘT TRÒ CHƠI VÔ CÙNG NGUY HIỂM



Sử gia Loraine Boettner đã nói về Nhà Thờ Vatican trong cuốn Roman Catholicism như sau:

“Rome in the minority is a lamb (Khi là thiểu số, Giáo Hội La Mã là con cừu).

Rome as an equal is a fox (khi ngang số, Giáo Hội La Mã La Mã là con cáo).

Rome in the majority is a tiger (khi chiếm đa số, Giáo Hội La Mã là con cọp.)”[1]

Binh pháp của Tôn Tử có câu để đời "Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bách thắng." Do đó, chuyện đối đầu với một kẻ thù vô cùng quỷ quyệt, hết sức thâm độc và cực kỳ tàn ngược như đế quốc Vatican, chúng ta cần phải biết rõ chân tướng cũng như những thủ đoan gian manh và sách lược lấn chiếm tiếm đọat quyền lực để thỏa mãn tham vọng trong mưu đồ thống trị toàn cầu và nô lệ hóa nhân loại của đế quốc này.

Phần I nói về những lý do mà Việt Nam không nên thiết lâp bang giao với Vatican và nếu thiết lập bang giao với Vatican thì sẽ rất nguy hiểm cho tiền đồ của dân tộc. Phần này gồm có:

Chương 1: Tổng quát về chủ trường và chính sách của Giáo Hội La Mã (9)

Chương 2: Những lý do khiến cho Việt Nam không nên thiết lập bang giao với Vatican. (19)



CHƯƠNG 1

TỔNG QUÁT VỀ CHỦ TRƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH CỦA GIÁO HỘI LA MÃ

Câu nói "Nhà Thờ Là Mối Đại Họa Cho Nhân Loại" là một sự có thực trong lịch sử thế giới mà tất cả các nhà sử học nghiên cứu về chủ trương chính sách và hành động của Giáo Hội La Mã trong gần hai ngàn năm qua đều đã nhìn nhận như vậy. Vấn đề này đã làm cho người viết suy tư từ nhiều năm nay nhưng chưa biết làm thế nào để cho mọi người Việt Nam ý thức được đại thảm họa này ngỏ hầu đối phó với con cáo già Vatican. Nếu nhận chân được mối hiểm họa, ta sẽ theo gương các nước Anh, Pháp, Ý, Mễ Tây Cơ và các quốc gia nạn nhân khác đã làm đối với Vatican, nghĩa là dùng những biện pháp mạnh rồi xa lánh nó giống như người Âu Châu đã làm:

“Giáo Hội Công Giáo Rôma La-tinh trong thời cực thịnh kinh bang tế thế, đội vương miện cho các hoàng đế, tung hoành dọc ngang, làm mưa làm gió, thâu tóm cả thiên hạ trong tay, tiền rừng bạc biển, đã không biết tự chế, không học bài học khiêm hạ rửa chân, tự cao tự đại, coi bàn dân thiên hạ như cỏ rác… hôm nay hối bất cập, lịch sử còn nằm trơ ra đó. Người Âu Châu khiếp sợ Giáo Hội tránh xa như tránh hủi! Người Á Châu có thành kiến ghép Giáo Hội vào ông Tây thực dân và chống thực dân! Người Mỹ Châu La-tinh đồng hóa Giáo Hội vào đại họa diệt chủng! Và người Trung Đông làm sao quên được 250 thánh chiến tàn bạo hãi hùng! v.v… .Trọng tội của Giáo Hội là Giáo Hội không phải là nguồn phúc lợi bình an dưới thế! Ngược lại, và riêng tại Việt Nam, Giáo Hội chống phá đạo hiếu, phế bỏ bàn thờ tổ tiên, chà đạp văn hiến dân tộc Đại Việt, gọi các tôn giáo bản địa là thờ Bụt Thần, Ma Quỷ… Giáo Hội chia hai dân tộc Việt Nam thành dân có đạo là dân riêng của Giáo Hội, và dân vô đạo là dân ngoai theo tà thần, tạo dựng thành kiến kỳ thị rất sâu đậm và thô bạo. Đức Hồng Y Hà Nội Phạm Đình Tụng xác minh trọng tội này của Giáo Hội trong bài tham luận đọc tại Roma năm 1998, có Đức Giáo Hoàng đương kim ngồi dự thính.”[2]

Cũng nên biết không phải một sớm một chiều mà người Âu Châu mới thóat ra khỏi ác thống trị tham bạo của Nhà Thờ Vatican mà họ gọi là cái tròng Ca-tô giáo (Catholic loop). Tiền nhân họ đã phải kiên trì liên tục tranh đấu từ thế hệ này qua thế hệ khác trong suốt thời gian gần hai ngàn năm bằng nhiều phương cách và phải trải qua những còn khó khăn, gian nan khổ cực gấp bội phần so với công cuộc tranh đấu của tiền nhân ta để thóat ra khỏi ách thống trị tham tàn của người Trung Hoa trước đây.

Thiết nghĩ rằng đất nước là của chung của tât cả toàn dân và tất cả mọi người chúng ta đều phải có trách nhiệm giữ gìn và bảo vệ. Với khả năng của chúng tôi, chúng tôi chỉ có thể làm hết sức mình trong việc sưu tầm tài liệu để biên sọan cuốn tâm thư này đạo đạt lên chính quyền Việt Nam hiện nay và cũng là để cho mọi người Việt Nam nhìn thấy rõ cái mối đại thảm họa này mà tất cả các quốc gia đã từng là nạn nhân của nó và đều phải quyết tâm tranh đấu cho đến cùng để giải thoát. Phần còn lại xin nhường cho nhân dân và đặc biệt là chính quyền Việt Nam hiện nay. Người viết thiết tha mong ước rằng tất cả mọi người trong chính quyền hiên nay và tất cả mọi người trong nhân dân ta hãy nghĩ đến tiền đồ của dân tộc để mà cố gắng hết sức và làm hết khả năng của mỗi người để góp phần vào đại cuộc tranh đấu đầy thử thách này để tranh cho đất nước cái đại thảm họa Nha Thờ Vatican mà tòan thể nhân dân thế giới đều ghê tởm đều muốn “diệt tận gôc, trốc tận rẽ” nếu không thỉ cũng phái tránh xa như tránh hủi như đã nói ở trên.

Chúng tôi cũng biết rằng cái tựa đề của cuốn tâm thư này sẽ làm cho nhều tín đồ Thiên Chúa Giáo giận dữ và những người phi Ki-tô giáo cho là quá đáng NẾU họ không hiểu thấu đáo lịch sử thế giới và không hiểu những chủ trương, những chính sách và những việc làm tội ác của cái tôn giáo này trong gần hai ngàn năm qua. Để làm sáng tỏ vấn đề này, người viết xin nói sơ lược về những chủ trương, chính sách, thủ đọan và việc làm mà Nhà Thờ (hay Vatican) đã gây ra không biết bao nhiêu thảm họa đau thương cho nhân lọai.

A.- Về chủ trương, Nhà Thờ Vatican luôn luôn có tham vọng thống trị toàn cầu và nô lệ hóa nhân lọai bằng bạo lực. Chủ trương bạo ngược này được sách sử ghi lại rõ ràng như sau:

"...., quyền lợi của Bồ Đào Nha đã được phân định rõ ràng trong sắc chỉ "Romanus Pontifex" do Đức (Giáo Hoàng) Nicholas V (1447-1455) ra ngày 8 tháng Giêng năm 1454. Theo quyền lực Chúa ban và quyền lực của Tòa Thánh, Đức Giáo Hoàng ban cho triều đình Lisbon (Bồ Đào Nha) "toàn quyền tự do xâm lăng, chinh phục, chiến đấu, đánh giặc và khuất phục tất cả các quân Sarrasins (tức người Ả Rập), các dân ngoại đạo và các kẻ thù khác của Giáo Hội, gặp bất cứ nơi nào: được toàn quyền chiếm cứ tất cả các vương quốc, lãnh địa, vương hầu, đất đô hộ và tài sản của chúng; toàn quyền chiếm đoạt tất cả của nổi và của chìm của chúng và bắt tất cả chúng nó làm nô lệ vĩnh viễn." [3]

B.- Về chính sách, trong suốt chiều dài lịch sử trong gần hai ngàn năm qua, Nhà Thờ Vatican đã thi hành những chính sách và thủ đoan cực kỳ thâm đôc, hết sức dã man, vô cùng quỷ quyệt và thâm độc đến cùng độ của thâm độc. Đó là các chính sách hay thủ đọan:

1.- Dùng cả hàng ngàn những chuyện hoàng đường láo khoét trong Thánh Kinh trong đó hai cái bánh vẽ thiên đường, hỏa ngục, rồi lại đặt ra hàng ngàn giáo luật và hằng hà sa số tín lý láo khoét để mê hoặc, dụ khị, hù dọa, cưỡng bách và chèn ép người đời phải theo đạo Ca-tô làm nô lệ cho Nhà Thờ. Vấn đề này đã được trình bày đầy đủ trong Phần II và Phần IV trong cuốn sách "Họ Và Chúng Ta" của tác giả Nguyễn Mạnh Quang. Tập sách này đã được đưa lên sachhiem.net vào ngày đầu năm 2009 xem link
http://sachhiem.net/NMQ/HOVATA/NMQhvt.php.

2.- Thi hành chính sách bất khoan dung đối với các thành phần thuộc các tôn giáo và nền văn hóa khác bằng những hành động cực kỳ tàn ngược, tàn sát hay cưỡng bách làm nô lệ tất cả những người ngoại đạo không chịu theo đạo Ca-tô, và hủy diệt tất cả những di sản văn hóa cùng những công trình kiến trúc của các dân tộc mà nhà Thờ gọi là ngoại đạo.

3.- Thi hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ để kìm hãm tín đồ và nhân dân dưới quyền mãi mãi ở trong tình trạng ngu dốt, không biết sử dụng lý trí để tìm hiểu sự vật. Có ở tình trạng ngu dốt như vậy, thì họ mới không có khả năng thông minh để nhìn ra tính các hoang đường láo khoét và bịp bợp trong Thánh Kinh. Sự kiện này được Linh-mục Trần Tam Tình ghi nhận như sau:

"Ngọai trừ các cụm nhà thành thị dân chúng sống lẫn lộn, người Công Giáo thường được tập trung lại thành làng xóm riêng, tách rời khỏi người lương, sống chen chúc quanh tháp nhà thờ xây theo kiểu Tây, chọc lên trời, cao vượt khỏi lũy tre. Bị đóng khung và được đòan ngũ hóa bởi hàng giáo sĩ, họ trở thành một lực lượng quần chúng, một lực lượng đáng ghê sợ khi cha xứ kêu gọi họ đứng lên bảo vệ đức tin, bảo vệ nhà thờ. Hệ thống ốc đảo đó tách biệt và cô lập phần lớn giáo dân khỏi liên hệ với đồng bào, thúc đẩy họ từ khước, tẩy chay bất cứ điều gì không được Giáo Hội chính thức phê chuẩn, chẳng hạn sách Truyện Kiều, một kiệt tác văn thơ cổ điển của Việt Nam, hoặc các tài liệu cách mạng đều bị cho là ngược với đạo. Các sách của Voltaire, Montesquieu, khỏi nói tới Các Mác, vừa bị nhà nước thuộc địa cấm, vừa bị giáo luật khai trừ, nhưng ngay cuốn sách thánh đã dịch ra tiếng bản xứ mà cũng chẳng ai được biết đến (có một bản sách thánh in bằng hai thứ tiếng La Tinh và Việt ngữ, khổ lớn, nằm trong thư viện các chủng viện và một vài cha xứ, còn giáo dân thì không thể rờ tới.)"[4]

Cũng nói về chính sách ngu dân của Giáo Hội La Mã, sử gia Loraine Boettner ghi nhận:

“Giáo dân phải vâng lời và phải ủng hộ vị tu sĩ quản nhiệm họ đạo và Giáo Hội bằng dịch vụ và bằng tiền bạc. Họ được rèn luyện cho cứu cánh này ngay từ thuở còn thơ ấu. Quyền hành của tu sĩ quản nhiệm họ đạo bao trùm cả đến những việc riêng tư trong gia đình của giáo dân mà không ai có quyền thắc mắc. Mọi sinh hoạt dân chủ đều bị ngăn cản. Các tổ chức họat động thế tục (ngoài đời) không những bị giới hạn và còn bị Giáo Hội gia cản trở. Trong khi đó những tổ chức tương tự như vậy do tu sĩ bảo trợ thì vẫn họat động trong họ đạo.” [5]

4.- Dùng thủ đọan phỉnh nịnh, khơi động và nuôi dưỡng lòng tham lam ích kỷ của con người, rồi dùng miếng mồi vất chất, danh lợi và bánh vẽ (những lời hứa hão huyền) để câu nhử những phường tham lợi, háo danh và thèm khát quyền lực chạy theo bắt mồi mà theo đạo để rồi lợi dụng và khai thác họ. Bản văn sử dưới đây cho chúng ta thấy rõ sự thật này.

"Giáo Hoàng kêu gọi phát động cuộc chiến thập tự. Giáo Hoàng Urban II (1088-1099) hăng say phát động cuộc chiến thập tự để thâu hồi lại Đất Thánh. Năm 1095, ông trịệu tập một đại hội gồm các tu sĩ chức sắc và các nhà quý tộc Pháp nhóm họp tại Clemont, Pháp. Ông thúc dục các nhà quý tộc có quyền thế hãy ngừng đánh phá lẫn nhau để tham gia vào một cuộc chiến lớn chống lại những người tà giáo (những người thuộc các tôn giáo khác.)

Người ta gia nhập vào các Đoàn Quân Thập Ác này vì nhiều lý do. Giáo Hoàng hứa hẹn sẽ ban thưởng cho họ vừa lên thiên đường vừa được hưởng những phần thưởng vật chất thiết thực ở nơi trần thế. Mọi tội lỗi của nguời lính Thập Ác đều được tha thứ. Tài sản và gia đình của họ được Giáo Hội bảo đảm, trông nom săn sóc trong thời gian họ xa nhà đi chiến đấu. Những ai còn mang nợ sẽ được xóa bỏ hết nợ nần và những tội đồ sẽ được xóa bỏ hết tội ác, miễn bị trừng phạt nếu họ gia nhập vào đoàn quân Thập Ác của Giáo Hội. Nhiều ông hiệp sĩ chóa mắt vì những miếng mồi quyến rũ về những đất đai và của cải mà họ hy vọng sẽ ăn cướp được ở vùng Cận Đông giầu có. Các thương gia thì thấy đây là cơ hội bằng vàng cho họ kiếm được những món lời lớn trong việc kinh doanh. Các cuộc viễn chinh của Đoàn Quân Thập Ác này một phần mang tính cách tôn giáo, nhưng cũng là một cuộc chiến tranh khích động lòng yêu thích phiêu lưu của con người, lòng hám lợi và khát vọng trốn thoát khỏi cảnh nợ nần, tù tội và buồn chán." [6]

5.- Cấu kết chặt chẽ với các cường quyền và các đế quốc thực dân xâm lược để củng cố quyền lực và bàp trướng thế lực ra tất cả các thuộc địa của các đế quốc thực dân Âu Mỹ. Đây là chính sách cố hữu của Nhà Thờ Vatican và đã được sách sử ghi lại đầy đủ như sau:

"Bản nghiên cứu về tiêu chuẩn lịch sử cho thấy rằng Giáo Hội La Mã đã sử dụng một sách lược hành động trong nhiều thế kỷ là đồng hóa (liên kết) các mục tiêu tôn giáo của Giáo Hội với mục tiêu của một cường quốc thế tục đương thời. Như chúng ta đã thấy, Giáo Hội đã sử dụng sách lược này ở Á Châu vào những thời kỳ Bồ Đào Nha, Tây Ban và Pháp đang là những đại cường đang lên.

Ở Âu Châu, sách lược trên đây cũng được áp dụng nhiều lần trong thế kỷ 20 này. Có lúc, Giáo Hội đã liên kết với nước Pháp, liên kết với Đế Quốc Gia-tô Áo - Hung trong thời Đệ Nhất Thế Chiến, rồi trước và trong thời Đệ Nhị Thế Chiến thì Giáo Hội lại liên kết với các chế độ độc tài Ý và Đức của phe hữu. Bằng cách đồng hóa với các cường quốc trên đây vào thời đang lên về các quyền lợi kinh tế, chính trị và chiến tranh, Giáo Hội đã thâu tóm được rất nhiều quyền lợi.

Vì rằng không còn một siêu cường Da-tô nào kể từ khi Đệ Nhị Thế Chiến chấm dứt mang theo sự hủy diệt của chế độ phát xít ở Âu Châu, Giáo Hội La Mã quay ra chọn Hoa Kỳ để liên kết thành một liên minh chính trị. Đây là hành động để đối phó với sự bành trướng của nghĩa Cộng Sản Bôn-sê-vích và siêu cường Nga Sô sau thời Đệ Nhị Thế Chiến. Tình trạng này khiến cho cả Giáo Hội La Mã lẫn Hoa Kỳ cùng lo sợ và bắt buộc hai thế lực này liên kết với nhau thành một liên minh thực sự trong thời Chiến Tranh Lạnh.” [7]

Sự kiện này cũng được học giả Charlie Nguyễn nói rõ trong Mục B ở trên. Xin ghi lại đây đọan văn ngắn ngủi này để độc giả không còn nghi ngờ về sự kiện lịch sử này:

"Vatican trước đây đã đạt tới đỉnh cao danh vọng do sự cấu kết chặt chẽ với các chủ nghĩa quân chủ phong kiến, chủ nghĩa thực dân đế quốc, chủ nghĩa phát -xít (Ý) và chủ nghĩa Đức Quốc Xã. Nó cấu kết với các bố già Mafia Ý và bọn khủng bố quốc tế.”[8]

6.- Kiểm soát và khống chế tất cả mọi phạm vi sinh họat trong các xã hội (đã bị nằm dưới quyền thống trị của Nhà Thờ) khiến cho người dân trở thành vô sản và Nhà Thờ trở thành một thứ bạo chúa chủ nhân của đât nước. Bản văn sử dưới đây cho chúng thấy rõ sự kiện này:

“Về các vấn đề tôn giáo, trước khi Kitô giáo ra đời, các tôn giáo trên thế giới đều có đặc tính khoan dung. Một trong những thông điệp của Delphic Oracle là “Mọi người đều đúng cả. Chẳng có ai quấy.” Nguyên tắc của người La Mã thời bấy giờ là “Tôn giáo ở trong vùng (nơi bạn cư ngụ) là tôn giáo của bạn.” Trong tâm trí và trong cách ứng xử của người đời thời bấy giờ là không có sự liên hệ gì giữa tôn giáo và chân lý. Tôn giáo không được coi như là một sự vật có thật. Vì thế cho nên, trước khi có đạo Kitô, không có chiến tranh tôn giáo, không có chuyện bách hại tôn giáo, và cũng không có người nào gọi là tử đạo cho niềm tin tôn giáo của họ cả. Lúc bấy giờ, không có ai cố gắng áp đặt tôn giáo hay cưỡng bách bắt buộc người khác phải theo tôn giáo của mình. Chỉ có những người Kitô giáo mới sản xuất ra chiến tranh tôn giáo, gây nên những vụ bách hại tôn giáo và tạo nên những người tử đạo.

Ngay từ lúc đầu, người Kitô giáo khăng khăng cho rằng tôn giáo của họ là chân lý, rằng tôn giáo của họ nói về thực tế. Họ đưa ra lập luận rằng tôn giáo của họ là một chân lý toàn cầu, rằng chỉ có Kitô giáo mới là tôn giáo đích thực. Vì thế cho nên mọi hệ thống triết lý khác và mọi hệ thống kiến thức khác - bất kỳ ngành họat động nào của con người có liên hệ với chân lý – đều phải hài hòa với tôn giáo đích thực là Kitô giáo. Trái lại, đó chỉ là một hệ thống triết lý giả, một kiến thức giả. Tất nhiên là mọi tính cách đạo đức đều từ Kitô giáo mà ra.. Kitô giáo thấm nhập vào tất cả mọi lãnh vực trong đời sống thế tục từ kinh tế, chính trị, tài chánh, nghệ thuật, giáo dục cho đến các cơ cấu khác trong xã hội. Tôn giáo và chính trị, tôn giáo và tài sản, tôn giáo và chính quyền, tôn giáo và nghệ thuật, tôn giáo và sự học hỏi – giữa những liên hệ cơ cấu này, không có sự chống đối nào mà không hòa giải được. Những cơ cấu này không thể tách rời được và cũng không thể giữ nó ở trong tình trạng tách rời nhau.. Các vấn đề như quân sự chính trị, tài sản, nghệ thuật và chính quyền, tất cả đều phải bị tôn giáo thống trị tuốt luốt.”

(“In religious matters, the pre-Christian world was ecumenical tolerant. “Everybody is right. Nobody is wrong,” was one message of the Delphic Oracle, “Whatever be the region of the earth where you find yourself,” went the Roman principle, “that region’s religion is your religion.” In men‘s minds and in the way they conducted their affairs, there was no connection between religion and truth. Religion was not considered a true thing. Hence, prior Christianity, there was no religious wars and no religious persecutions. There was no religious martyrs for their faith. No one tried to impose religion as such on anyone else. Only Christians produced such wars, persecutions and martyrs.

From their beginnings, Christians insisted that their religion was true, that it did speak about reality. They drew the logical conclusion from that: that it was universally true. That there could be only one true religion. Theirs. Hence all philosophy and all knowledge - any branch of human activity that dealt with the truth – had to be, would be reconcilable with the true religion, Christianity. Otherwise, it was a false philosophy, a false knowledge. Automatically, an all embracing morality from this Christianity. It permeated al aspects of temporal life:economics, politics, finance, the arts, education, social structures. Religion and politics, religion and wealth, religion and government, religion and art, religion and learning – between these there was no irrececoncilable opposition. They were not separate or to be kept separate. Military matters, matters of politics, wealth, art, government – all became dominated by religion.” [9]

Bản văn sử trên đây cho chúng ta thấy rõ Nhà Thờ quả thật đã trở thành một thứ bạo chúa nắm quyền chủ tến của đất nước và kiểm sóat chặt chẽ tất cả mọi phạm vi sinh họat của người dân trong nước giống như những ông bạo chúa áo đen quản nhiệm một họ đạo hay xóm đạo hoặc làng đạo mà nhà văn Ca-tô Nguyễn Ngọc Ngạn đã nói rõ ở nơi trang 148 trong cuốn Xóm Đạo (Đông Kinh, Nhật Bản: Tân Văn, 2003) và Linh-mục Trần Tam Tỉnh cũng nói rõ ở nơi trang 54 và trang 104 trong cuốn Thập Giá Và Lưỡi Gươm (Paris: Nhà Xuất Bản Trẻ, 1978).

Trên đây là nói tóm lược về chủ trương cũng những thủ đọan và chính sách cực kỳ tham tàn, hết sức độc ác và vô cùng dã man của Nhà Thờ Vatican hay Giáo Hội La Mã đã có từ ngàn xưa. Cho đến ngày nay, Nhà Thờ Vatican vẫn theo đuổi chủ trương ngược ngạo và thi hành những thủ đọan cũng như chính sách dã man này và càng về sau càng được thi hành ở mức độ quỷ quyệt hơn và tinh vi hơn. Mấy vụ Giám-mục Ngô Quang Kiệt xúi giục giáo dân tụ tập gây bạo lọan tại tòa nhà công sở số 142 Phố Khâm Thiên, Hà Nội trong những ngày từ 18/12/2007 cho đến ngày 30/1/2008, cũng như tại Công Ty May Chiến Thắng số 178 Đường Nguyễn Lương Bằng từ ngày 15/8 đến ngày 22/9/2008 và vụ dựng tượng Bà Maria ở xã An Bằng (Huế) hiên nay là bằng chứng rõ ràng nhất cho sự thật này.



Xem tiếp Những Lý Do Việt Nam Không Thể Bang Giao



CHÚ THÍCH


--------------------------------------------------------------------------------

[1] Loraine Boettner, Roman Catholicism (Phillipsburg, New Jersey: The Presbyterian and Reformed Publishing Company, 1962), tr. 424.

[2] Nhiều tác giả, Vatican Thú Tội và Xin Lỗi? (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2000), tr. 245-246.

[3] Trần Tam Tỉnh, Thập Giá Và Lưỡi Gươm (Paris, Sudestasie, 1978), tr. 14-15.

[4] Trần Tam Tỉnh, Sđd., tr. 54[4].

[5] Loraine Boettner. Ibid., p. 35. [“The people in turn are expected to obey the priest, and to support him and the church through their services and money. They are trained and disciplined to that end from childhood. No one is to question the authority of the priest, even in domestic of family affairs. Democratic processes are discouraged. Lay organizations have only very limited scope, usually are not encouraged, and are excluded from authority in the church at large. Such lay organizations as do exist have clerical sponsors.”]

[6] Anatole G. Mazour & John M. Peoples. Men and Nations (New York: Harcourt Brace Jovanovich, 1975), p. 217.

["The pope's call for a crusade.- Pope Urban II (1088-1099) was eager to promote the idea of Christian offensive to regain the Holy Land from Moslems. In 1095 he called a great meeting of churchmen and French nobles at Clemon, France. He urged the powerful nobles to stop warring among themselves and join in one great war against unbelievers....

Men joined the Crusades for many different reasons. The pope promised both heavenly and earthly rewards. All the sins of a crusader were forgiven. His property and family were guaranteed protection by the Church during his absence. A debtor who took the cross had his debts canceled; a criminal was relieved of punishment. Knights were dazzled by the lure of lands and plunder in the rich Near East. Merchants saw and chance for commercial gain. The Crusades were partly religious expeditions, but they appealed to men's love of adventure, hope of gain, and desire to escape debts, punishment, or boredom."]

[7] Avro Manhattan, Vietnam why did we go? (Chino, CA: Chick Publications, 1984), p. 157.

["The study of historical patterns reveals a formula which the Catholic Church has used for centuries, namely identification of her religious objectives with those of a major lay political power of a given period. As we have seen, she used this formula in Asia when she identified herself with the major powers of those days, Prortugal, Spain, and France.

In Europe the formula was applied several times in this century. She identified herself at vaious intervals with France, then with the Catholic Empire of Austria-Hungry during the First World War, and with the right wing dictatorships of Italy and Germany, before and during the Second World War. She advanced her interests in the wake of these Powers by identified herself with their economic, political and war interest.

Since the end of the Second World War and the annihilation of European fascism she adopted the U.S. as her lay partner, in the absence of a Catholic superpower. This was prompted by the grim reality of the appearance of Boshevism and the growing military presence of Soviet Russia after World War II. The menacing reality of these two compelled the Vatican and the U.S. together and in due course force them into veritable alliance known as the Cold War."]

[8] Charlie Nguyễn, Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2001), tr. 105-106.

[9] Malachi Martin, Rich Church Poor Church (New York: G. P. Putnam’s Sons, 1984) p. 90.




Trang Nguyễn Mạnh Quang
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
-=SVN=-
Tổng Tư Lệnh
Tổng Tư Lệnh
avatar

Biệt danh : Đại Tướng
Chức Vụ : Chủ Tịch

Tổ chức
Huân chương
Cống hiến : 307
Đồng : 100751
Vinh danh : 3
Gia nhập : 22/03/2010

Dân tộc : Việt Nam
Phương châm : Yêu trong không tiền !

Bài gửiTiêu đề: Re: Tâm Thư Gửi Nhà Nước Việt Nam   Mon Mar 22, 2010 7:07 pm

Tâm Thư Gửi Nhà Nước Việt Nam

Nguyễn Mạnh Quang

bản in ¿ trở ra mục lục 29 tháng 3, 2009




PHẦN I

(tiếp theo)


CHƯƠNG 2

NHỮNG LÝ DO KHIẾN CHO VIỆT NAM
KHÔNG NÊN THIẾT LẬP BANG GIAO VỚI VATICAN



Trong chương này, chúng tôi xin trình bày những lý do TẠI SAO mà chúng tôi thiết tha thỉnh cầu chính quyền Việt Nam cương quyết giữ vững lập trường KHÔNG đặt quan hệ ngọai giao với Tòa Thánh Vatican. Dưới đây là những lý do này:

1.- Tòa Khâm sứ chắc chắn sẽ là một ngai vàng của tòa thánh Vatican ở Việt Nam. Yếu tố cực kỳ quan trọng là một khi đã thiết lập bang giao với Vatican rồi, thì Toà Thánh La Mã sẽ có tòa đại sứ ở Hà Nội và vị đại sứ của Vatican sẽ ngự trị ở trong tòa đại sứ này. Mối nguy hiểm là khi đó Toà Thánh La Mã sẽ tìm đủ mọi cách để thuyết phục các vị đại sứ của các quốc gia khác ở Hà Nội đề cử viên đại sứ của Vatican làm trưởng đoàn đại sứ các nước ngoài ở Việt Nam. Sự kiện này được sách Roman Catholicism nói rõ như sau:

“Vị đại sứ của Vatican tại quốc gia sở tại sẽ tìm cách vận động được chỉ định làm trưởng đoàn ngoại giao, như vậy ông ta sẽ ở cấp bậc cao hơn các vị đại sử của các nước khác tại đây.” (“In each counrty to which a papal ambassador is sent Rome seeks to have her ambassador desingated as the dean of the diplomatic corps, thus giving him rank above the other ambassadors.” [16]

Lúc đó, Tòa Đai Sứ (Khâm Sứ) của Vatican là trụ sở của Vatican tại Hà Nội để các cho hồng y, tổng giám mục, giám mục và linh mục công khai đến đó để bàn mưu tính kế xúi giục giáo dân nổi đánh phá chính quyền và đất nước ta. Đồng thời, giáo dân càng trở nến ngang ngược hơn, họ chỉ cần biết hành động theo lời xúi bẩy của các đấng bề trên của họ mà không cần biết đến luật pháp quốc gia như trong các vụ nổi loạn tại số 142 Phố Nhà Chung, Hà Nội trong thời gian từ 18/12/2007 đến ngày 30/1/2008, và vụ gây bạo loạn phá tường tràn vào chiếm đóng Công ty may Chiến Thắng tại số 180 Đường Nguyễn Lương Bằng (Phương Đồn Đa, Hà Nội) từ ngày 18/8/2008 cho đến nay (30/8/2008).

Những hành động can thiệp vào nội tình Việt Nam từ cuối thế kỷ 18 với những việc làm vận động đế quốc Pháp cùng siêu cường Hoa Kỳ liên minh với Vatican để cùng can thiệp vào nội tình Việt Nam và việc vận dụng tín đồ Da-tô người Việt thành những người phản quốc chống lại đất nước chúng ta trong mấy thế kỷ vừa qua là những kinh nghiệm xương máu cho chúng ta thấy rằng thiết lập bang giao với Vatican là một việc làm vô cùng nguy hiểm cho tổ quốc Việt Nam.

2.- Tạo một sự bất công giữa các tôn giáo . Không thể đối xử bình đẳng với các tôn giáo khác nếu một tôn giáo có một "Tòa Khâm" thiết lập. Nước ta có nhiều tôn giáo khác, lại là những tôn giáo lớn, mà nền văn hóa đã tỏa rộng trong đại đa số của mọi tầng lớp nhân dân. Tất cả những tôn giáo này không ai có một "triều đình" cho Giáo chủ như Công giáo, do đó không thể có một tiếng nói đại diện như một "tòa khâm sứ". Thật là vô lý khi để cho một tôn giáo có tỉ lệ chỉ bằng 7 phần trăm lại có một cơ chế đại diện cho riêng họ, và lại cũng là đại diện cho một cơ cấu pháp lý ở nước ngoài như thế.

3.- Vatican theo chế độ quân chủ tăng lữ chuyên chế (Sacerdotal monarchy) toàn trị. Với chế độ Giáo Hoàng, giáo hội duy trì một chính sách độc tài, lạc hậu mà ngày nay thế giới văn minh đều từ bỏ. Hơn nữa, Giáo Hội La Mã là một chế độ hết sức phi nhân, phản dân chủ, phản nhân quyền nhất trong các chế độ chính trị trong lịch sử. Trong rất nhiều tài liệu mà chúng tôi đã trình bày ở nhiều tác phẩm khác nhau, chế độ Vatican cực kỳ độc ác, vô cùng gian xảo, và quỷ quyệt.

Trong khi loài người đã tiến đến trình độ văn minh với những tiến bộ về khoa học và kỹ thuật đi đôi với những bước tiến trong các lãnh vực nhân văn, chính trị, nhân quyền và tự do tín ngưỡng, THÌ Vatican vẫn còn theo đuổi chủ trương “tôn giáo chỉ đạo chính quyền”, vẫn duy trì thể chế tăng lữ quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền toàn trị.

Chế độ chuyên chế của họ được duy trì như một điều kiện cần thiết để thực hiện dã tâm thống trị thế giới như lịch sử đã chứng minh. Đặc tính này thể hiện trong những cách thu nạp tín đồ bất chấp thủ đoạn. Lợi dụng tình yêu lứa đôi hôn nhân, dùng bạo lực thế quyền để cưỡng bách nhân dân dưới quyền phải theo đạo (nếu không thì chụp mũ theo địch), dùng chính sách ngu dân và nhồi sọ để kìm hãm nhân dân dưới quyền mãi mãi ở trong tình trạng ngu dốt theo đúng kế sách “dân ngu dễ trị và dễ lừa gạt”.

Nhờ vào những thủ đoạn và hành động gian manh và dã man này, Vatican mới có thể tiếp tục theo đuổi cái nghề buôn bán tín lý hoang đường theo kiểu “cưới vợ cho Hà Bá” với những trò ảo thuật “bí tích”, “phép lạ”, “phép mầu” và mới có thể tồn tại cho đến ngày nay.

4.- Vatican hoàn toàn không có một chút uy tín gì về chính trị. Không những thế, Vatican còn bị nhân dân thế giới khinh rẻ, ghê tởm và lên án nặng nề vì đã gây ra hàng chục rặng núi tội ác chống lại nhân loại trong gần hai ngàn năm qua. Đã được nói rõ trong phần Dẫn Nhập ở trên. Vatican không gia nhập tổ chức Liên Hiệp Quốc. Với thực trạng này, Vatican hoàn toàn không có tiếng nói trong tổ chức quốc tế. Như vậy, về vấn đề vận động dư luận quốc tế, Vatican hòan tòan không có ảnh hường tốt hay xấu đến Việt Nam. Vatican là một quốc gia nhỏ bé cả về lãnh thổ (chỉ có 400,000 mét vuông hay 0. 4 cây số vuông) và về dân số chỉ có khoảng 900 người (vào năm 1995)

5.- Vatican không có giá trị gì về văn hóa và văn minh và hầu như toàn thể nhân dân thế giới đều ghê tởm. Lý do vì nền văn hóa này :

a.- Lừa bịp để bắt người trở thành mê tín theo kiểu “Cưới Vợ Cho Hà Bá”. Các thầy phù này lại không phải ở địa vị khiêm nhường như các thầy phù trong xã hội Á đông ngày nay. Họ huênh hoang khoác lác, tự phong là đại diện duy nhất của Thượng Đế ở trong cõi trần gian, nhận vơ là được toàn quyền làm chủ địa cầu và quản trị loài người.

b.- Phi dân chủ và vô cùng bạo ngược. Nền văn hóa luôn chủ trương tiêu diệt tất cả các nền văn hóa và văn minh không phải là Ki-tô giáo.

c.- Phi luân [Matthew (10: 34-37)], loạn luân [Sáng Thế Ký (19:30-38)], vong bản, phản dân tộc. Qua thời gian, họ đã thành công đào tạo nên những hạng người “Thà mất nước, chứ không thà mất chúa”, chỉ biết “Tuyệt đối tin tưởng vào Tòa Thánh Vatican” và “triệt để tuân hành lệnh truyền của các đấng bề trên” trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội La Mã.

d.- Có truyền thống nuôi dưỡng hận thù và trả thù một cách cực kỳ man rợ (sẽ được nói rõ nơi Chương 12, Phần II ở dưới). Nền văn hóa này hòan toàn trái ngược với nền văn hóa cổ truyền của dân tộc Việt Nam với truyền thống khoan dung tha thứ đúng theo triết lý “lấy ân trả óan” của nhà Phật và “dĩ trực báo oán” của Nho giáo Giáo.

e.- Đặt giáo luật lên trên pháp luật quốc gia, đặt quyền lợi của Vatican lên trên quyền lợi của đất nước. Những buổi lễ "dâng hiến" có một ý nghĩa thật đen tối. Chính quyền Ngô Đình Diện đã phải đem nước Việt Nam dâng hiến cho Giáo Hội La Mã qua những giáo ngữ như "Dâng nước Việt Nam cho Đức Mẹ" (Đức Mẹ làm gì với cái lễ như thế?). "Hận thù" cũng được tàng hình bằng những chiêu bài “dâng cao cờ vàng ba sọc đỏ”, “giữ vững lằn ranh Quốc –Cộng”, đòi hỏi Tổ Quốc chúng ta phải "ăn năn”.

Những chiến dịch này nhằm mục đích phủ nhận công lao ông cha chúng ta đã lên tục chiến đấu đánh đuổi Liên Minh Xâm Lược để giành lại chủ quyền độc lập cho dân tộc và đòi lại miền Nam để đem giang sơn về một mối. Thái độ và lời lẽ ngang ngược (coi giáo luật đứng trên luật pháp Việt Nam) trong văn thư số 10/GHVN đề ngày 25/9/2008 của Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Nhơn (chủ tịch Hồi Đồng Giám Mục Việt Nam) trả lời văn thư số 1437/UBND-NC ngày 23/9/2008 của ông Nguyễn Thế Thảo (chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hà Nội và trong Thư phúc đáp của Tỉnh Dòng Cứu Thế Việt Nam đề ngày 19/12/2008 gửi ông Chủ Tịch UBND TP Hà Nội là bằng chứng rõ ràng nhất nói lên sự lời khẳng định cho sự thật này.

6.- Vatican không có môt chút khả năng quân sự, kinh tế cũng như thương mại. Thông thường ai cũng nghĩ rằng những yếu tố khả dĩ để thiết lập ngoại giao giữa hai quốc gia là mong có thể hợp tác về một phương diện nào đó trong các lãnh vực quân sự, chính trị, kinh tế cũng như thương mại để mưu cầu lợi ích hổ tương cho nhau.

Ai nói có thể trông cậy vào Vatican để bàn về những điều này? Chẳng những không ích gì mà trái lại, Giáo hội sẽ tích cực đoàn ngũ hóa tín đồ bản địa và tổ chức thành những đạo quân thứ 5 nằm vùng trong lòng dân tộc, thu thập các tin tức tình báo chiến lược rồi báo cáo về cho Vatican. Sau đó, Vatican sẽ vận động và liên kết các đế quốc xâm lược với sự hợp tác của các đạo quân thứ 5 này làm nội công, xuất quân đánh chiếm Việt Nam làm thuộc địa như họ đã làm trong thế kỷ 19.

Vatican cũng không có sức mạnh và tiềm năng về kinh tế cũng như thương mại để trao đổi với Việt Nam, mà lại còn nhiều "điểm đáng nói" rất tiêu cực trong vấn đề này. Trong trường hợp NẾU Vatican có viện trợ tài chánh cho Việt Nam để thực hiện một dự án nào đó, THÌ đây chỉ là một sách lược “thả con xăn xắt bắt con cá rô” mà thôi.

Chủ trương bất di bất dịch của Vatican là theo đuổi sách lược sử dụng giới tu sĩ và tín đồ bản địa để đánh phá và cướp chính quyền, thiết lập chế độ đạo phiệt Ca-tô làm tay sai rồi tiến hành kế hoạch Ki-tô hóa bằng bạo lực. Trên chiến lược này, Vatican hủy diệt tận gốc rễ tất cả các di sản văn hóa và công trình kiến trúc của các tôn giáo và nền văn hóa khác. Chủ trương này đã được thể hiện một các trắng trợn qua lời tuyên bố của các vị chức sắc cao cấp trong Giáo Hội hay bằng những quyết định, thánh lệnh hay sắc chỉ.

Rõ ràng nhất là (1) lời tuyên bố của Giáo Hoàng Leo I (440-461) vào năm 451, rằng “Quyền hành của giáo hoàng phải bao trùm lên tất cả quyền hành của các nhà cầm quyền thế tục”, (2) bản tuyên cáo "Dictatus papae" được ban hành trong thời Giáo Hoàng Gregory VII (1073-1085), và các thánh chỉ hay sắc chỉ đợợc ban hành trong thế kỷ 15 trong đó có Sắc Chỉ Romanus Pontifex ban hành vào ngày 8/1/1454 trong thời Giáo Hoàng Nicholas V (1447-1455). Những sự kiện này đều được sách sử ghi lại rõ ràng và đầy đủ. Sách Roman Catholicism viết:


“Khi đặt cái mũ ba tầng đặt lên đầu vị tân giáo hoàng, vị hồng y điều khiển buổi lễ tấn phong đọc lời tuyên bố dưới đây:

Tiếp nhận cái vương miện ba tầng này có nghĩa là Ngài biết rằng Ngài là Cha của các vua chúa, là Chúa tể của thế giới và là người đại diện của Chúa Jesus Cứu Thế…” (Sách Da-tô Niên Giám Quốc Gia)

Sách Giáo Lý Vấn Đáp của Địa Phận New York viết:

“Giáo hoàng giữ vai trò đại diện của Chúa Jesus Ki-tô ở trên trái đất. Do cái thần quyền này, giáo hoàng có đầy đủ quyền lực tối cao về tín ngưỡng và đạo đức bao trùm lên tất cả các linh mục và tất cả tín đồ Da-tô. Ông thực sự là người đại diện của Chúa Ki-tô, là vị lãnh đạo của Giáo Hội, là cha, là thày của tất cả tín đồ Ca-tô và là cha của tất cả mọi người. Ông là nhà lãnh đạo không lầm lẫn, là người có quyền đặt ra các tín điều, có quyền triệu tập các hội đồng giáo sĩ và có quyền phán xét trong các hội đồng này; ông cũng là vị chúa tể của toàn cầu, là trọng tài trên thế giới, là vị phán quan tối cao ở cả thiên đường và ở nơi dương thế, ông có quyền phán xét tất cả mọi người và không ai có quyền phán xét ông. Ông chính là Chúa ở trên trái đất này.”

Trong sắc lệnh “The Reunion of Christendom”, Giáo Hoàng Leo XIII (1878-1903) tuyên bố rằng “giáo hoàng là Chúa Toàn Năng ở trên trái đất này.”

Như vậy, Giáo Hội La Mã tự cho rằng giáo hoàng là đại diện của Chúa Ki-tô, là chúa tể ở thế gian này, quyền hành của ông ta không phải chỉ giới hạn trong Giáo Hội La Mã mà còn bao trùm lên trên tất cả các vua chúa, tổng thống, các nhà cầm quyền thế tục, và tất cả các dân tộc trong tất cả các quốc gia ở trên thế giới. Sự thật đã xẩy ra là các giáo hoàng đã hành xử quyền lực này ở trong các quốc gia mà quyền lực của Giáo Hội đủ mạnh. Các giáo hoàng đã từng rút phép thông công, truất phế các vua chúa và các thống đốc (phó vương) như trường hợp Nữ Hoàng Elizabeth I (1558-1603) của nước Anh và trường hợp Hoàng Đế Henry IV (1056-1106) của nước Đức, các giáo hoàng cũng đã từng mưu đồ xúi giục nhân dân nổi loạn chống lại các chính quyền không triệt để tuân hành lệnh truyền của Vatican bằng cách tuyên bố rằng tín đồ Ca-tô không có nghĩa vụ phải trung thành với các chính quyền này. Tuy nhiên, ở Hoa Kỳ, các giáo hoàng không thể hành xử như vậy được vì rằng Giáo Hội không có quyền hành ở nước Mỹ và vì Hiến Pháp Hoa Kỳ được coi như là tấm khiên chống lại mọi sự can thiệp từ bên ngoài.

Cho đến ngày nay, giáo hoàng vẫn còn sử dụng danh nghĩa “nhân danh Chúa” để đòi hỏi tất cả các dân tộc trên thế giới phải tuân phục ông ta. Nhiều khi sự tuân phục này diễn ra dưới một hình thức đặc biệt hết sức đê tiện, ngay cả các hồng y là những chức sắc cao cấp chỉ thua giáo hoàng có một bậc mà cũng phải quỳ gối phủ phục gục mặt xuống trước chỗ ông ta ngồi để hôn bàn chân của ông ta! Cho đến ngày nay, các giáo hoàng cũng vẫn còn xưng là đại diện Thượng Đế và khăng khăng đòi mọi người phải gọi ông ta là “Đức Thánh Cha”, chứ không đuợc gọi tên ông ta.” [10]

Cũng trong tác phẩm này, trong một trang sách khác, tác giả Loraine Boettner viết:

“Khi là thiểu số, Giáo Hội La Mã là con cừu. Khi ngang số, Giáo Hội La Mã La Mã là con cáo. Khi chiếm đa số, Giáo Hội La Mã là con cọp”. [“Rome in the minority is a lamb. Rome as an equal is a fox. Rome in the majority is a tiger.”] [11]

Kinh nghiệm của Mỹ:

Chính vì lẽ này mà Tổng Thống Hoa Kỳ Abraham Lincoln mới tuyên bố:

"Cuộc nội chiến này sẽ chẳng bao giờ xẩy ra nếu không có ảnh hưởng ác độc của Dòng Tên. Vì chính sách (xâm thực) của Giáo Hội La Mã mà giang sơn chúng ta đã nhuộm đầy máu của chính những người con cao quý nhất của chúng ta. Dù rằng giữa miền Nam và miền Bắc có nhiều khác biệt lớn lao về vấn đề nô lệ, nhưng cả Tổng Thống Jeff Davis (của miền Nam) cũng như tất những nhân vật lãnh đạo khác trong chính quyền miền Nam, không có ai dám nghĩ đến việc tấn công miền Bắc nếu họ không trông cậy vào những lời hứa hẹn của Dòng Tên rằng nếu miền Nam tấn công miền Bắc thì Giáo Hội La Mã, và ngay cả nước Pháp nữa, sẽ gửi tiền bạc và vũ khí đến tiếp viện cho họ. Khi nhân dân Hoa Kỳ nhận thức được rằng chính các ông giám mục và tất cả các tu sĩ khác của Giáo Hội La Mã ở Hoa Kỳ phải chịu trách nhiệm về cuộc chiến đẫm máu và đầy nước mắt này, tôi cảm thấy thương xót cho họ. Từ sự hiểu biết tình hình của đất nước, tôi phải giấu kín những gì tôi biết về vấn đề này; vì rằng NẾU nhân dân Hoa Kỳ biết hết sự thật (về chuyện này) cuộc chiến sẽ biến thành cuộc chiến tranh tôn giáo, sẽ trở nên tàn khốc với tất cả đặc tính của một cuộc chiến tranh tôn giáo và máu của người dân Hoa Kỳ sẽ đổ ra gấp mười lần. Ở vào trường hợp này, cả miền Nam lẫn miền Bắc đều trở nên vô cùng tàn nhẫn để tận diệt lẫn nhau. Khi đó, những tín hữu Tin Lành ở cả miền Bắc lẫn miền Nam sẽ cùng nhau đoàn kết để tận diệt hết các ông tu sĩ Dòng Tên và các tu sĩ khác của Giáo Hội La Mã nếu họ nghe được những gì Giáo-sư Morse đã nói với tôi về những âm mưu được hoạch định ngay tại La Mã để tiêu hủy chế độ Cộng Hòa Hoa Kỳ của chúng ta, và NẾU họ biết được rằng các ông tu sĩ và các bà phước của Giáo Hội La Mã hàng ngày nhập cảnh vào Hoa Kỳ những người với bề ngoài là truyền đạo, dạy học và săn sóc những người ốm đau, mà thực chất chỉ là những tên gián điệp của Giáo Hoàng, của Napoleon (Đệ III của nước Pháp) và của những tên bạo chúa khác ở Âu châu đến đây để phá hoại những cơ cấu chính quyền của chúng ta, làm cho nhân dân ta mất thiện cảm với hiến pháp và luật lệ của chúng ta, để phá hoại các trường học của chúng ta. Mục đích của họ là làm cho đất nước chúng ta trở thành hỗn loạn, một tình trạng vô chính phủ như họ đã làm ở Ái Nhĩ Lan, ở Mễ Tây Cơ, ở Tây Ban Nha, và ở bất kỳ nơi nào mà nhân dân ở đó muốn được sống đời tự do."

"Tổng Thống Abraham Lincoln nói tiếp: "Có phải là một sự vô lý hay không, nếu đem cho một người một cái gì mà chính họ đã thề thù ghét, nguyền rủa và hủy diệt? Và vào bất kỳ khi nào có thể làm được một cách an toàn, Giáo Hội La Mã có thù ghét, nguyền rủa và hủy diệt tự do lương tâm hay không? Tôi là người đứng về phía tự do của lương tâm theo ý nghĩa cao thượng nhất, rộng rãi nhất và cao cả nhất. Nhưng tôi không thể nào lại trao tự do lương tâm cho Giáo Hoàng và những người tín đồ của ông ta khi mà qua các công đồng của họ, qua các nhà thần học của họ và qua luật thánh của họ, tôi vẫn còn nghe thấy tiếng nói lương tâm của họ ra lệnh cho họ phải thiêu đốt và bóp cổ vợ con tôi cho đến chết, và cắt cổ tôi khi mà họ có cơ hội!. Nhân dân ta ngày nay hình như chưa hiểu được điều này. Nhưng rồi sớm hay muộn, ánh sáng của công lý sẽ làm sáng tỏ điều này, và khi đó tất cả mọi người sẽ hiểu rằng không thể nào trao tự do lương tâm cho những người đã thề phải tuân phục một ông Giáo Hoàng tự phong cho chính mình cái quyền được sát hại những người khác biệt niềm tin tôn giáo với ông ta."[12] .

Việc Giáo Hội La Mã xúi giục các tiểu bang miền Nam ly khai, viện trợ tài chánh cùng nhân sự và tích cực tiếp tay cho miền Nam tiến hành chiến tranh chống lại miền Bắc khiến cho chính quyền Hoa Kỳ cắt đứt quan hệ ngoại giao với Tòa Thánh Vatican kể từ đó cho đến năm 1984. Sự kiện này được ông Lương Minh Sơn ghi lại sự kiện này như sau:

"Đối với Hoa Kỳ, mặc dầu là đất nước được gây dựng trên nền tảng luân lý và đạo đức của niềm tin nơi Thiên Chúa (Judeo-Christian), tổ tiên của người Mỹ là những người Âu Châu đã từng bỏ chạy qua đây để tránh sự ruồng bắt của Tòa Thánh La Mã trong thời kỳ "Inquisition". Thành thử, Hiến Pháp Hoa Kỳ nghiêm cấm và tách rời mọi sự liên hệ về quyền lực chính trị giữa chính quyền và tôn giáo, không phải chỉ vì trình độ ý thức chính trị cao mà còn là vì những kinh nghiệm đau đớn có thật lúc trước. Nếu Hoa Kỳ đã cấm bang giao với Cộng Sản Trung Quốc trong 23 năm (1949-1972), với Cộng Sản Việt Nam trong 19 năm (1975-1994) vì không tương quan trên chính kiến và quyền lợi, thì Hoa Kỳ cũng đã từng cấm bang giao với Vatican trong 117 năm (1867-1984). Điều này cho thấy, trong thập niên 1950, Ngô Đình Diệm được Đức Hồng Y Spellman và các Ủy Viên Chính Trị Tôn Giáo của một số nhà thờ Mỹ đưa đi gặp một số giới chức Hoa Kỳ chẳng những phải bằng trường hợp bí mật để che dấu nhân dân Hoa Kỳ mà còn không thể nào hợp pháp được với hiến pháp của Hiệp Chủng Quốc. Trong khi ông Diệm cho giới chức Hoa Kỳ biết rằng ông "tin tưởng vào Vatican và ông chống Cộng cực lực" thì năm 1960, Thượng Nghị Sĩ John F. Kennedy đã phải khẳng định với Phó Tổng Thống Richard Milhous Nixon và hàng chục triệu người Mỹ rằng mọi quyết định của ông trên cương vị của một Tổng Thống Hiệp Chủng Quốc sẽ không thể nào bị chi phối bởi tôn giáo của ông. Lý do là vì ông Kennedy đang tranh cử để trở thành tổng thống đầu tiên và duy nhất của Hoa Kỳ cho đến ngày hôm nay là người Thiên Chúa Giáo La Mã trong một quốc gia mà gần 80% dân số không phải là những người có cùng giáo phái, và không có quyền bang giao với Vatican, {WAR. Census of Religious Groups in U.S."]

Richard M. Nixon và dư luận người Mỹ thắc mắc về trường hợp tín ngưỡng của John F. Kennedy không phải vì tôn giáo nhưng là vì chính trị. Hoa Kỳ là một quốc gia chấp nhận đa tôn giáo với hơn 180 hệ phái từ đủ mọi tôn giáo, trong đó có khoảng 60 triệu là người Thiên Chúa La Mã. Vatican vừa là Tòa Thánh với nhiệm vụ phát huy và bảo tồn giáo luật, vừa là một quốc gia có nhiệm vụ phát biểu và khẳng định quan điểm chính trị để bảo vệ quyền lợi đối với các quốc gia khác trong cộng đồng thế giới. Và Kennedy muốn trở thành tổng thống của một quốc gia đang bị cấm bang giao với quốc gia mà tâm linh ông tin tưởng là điều mà nhân dân Hoa Kỳ có quyền biết trong năm 1960. Nỗi thắc mắc này đã hiện ra trong cuộc bỏ phiếu với sự kiện Kennedy được trội hơn Nixon chỉ có 113.067 dân phiếu trong tổng số 69 triệu phiếu đi bầu, có nghĩa là chưa được 2 phần ngàn số phiêu [6], [TRA, "Political Events - 1960". Thành thử, nếu Ngô Đình Diệm đã trở thành một "Spanish Inquisitor" thì ngay cả Kennedy cũng không thể nào có thẩm quyền để tiếp tục dung túng ông. Và nếu vấn đề "Inquisition" đã từng có thật ở miền Nam Việt Nam thì Cộng Sản không phải là nỗi kinh hoàng duy nhất đã xẩy đến cho dân tộc Việt. - Hồ Sơ Ngũ Giác Đài."[13]

Đánh bại được miền Nam và mang lại được nền thống nhất đất nước là công lao vĩ đại và tài lãnh đạo vô cùng khôn khéo của Tổng Thống Abraham Lincoln. Nhờ vậy mà Hoa Kỳ mới có thể dồn nỗ lực vào công cuộc kiến thiết đất nước và mở rộng lãnh thổ về phía Tây tới tận bở biển Thái Bình Dương, về phía bắc tới vĩ tuyến 49 rồi lại mua thêm Alaska của nước Nga, về phía nam xuống tới Vịnh Mễ Tây Cơ và biên giới Mexico. Cũng nhờ vậy mà quốc gia này càng ngày càng trở nên hùng mạnh. Chính vì lẽ này mà nhân dân Hoa Kỳ đã coi Tổng Thống Lincoln là một trong hai vị tống thống vĩ đại nhất trong lịch sử Hoa Kỳ, và đã dành cho ông một chỗ ngồi danh dự nhất trong lịch sử, sánh ngang cùng với Tổng Thống George Washington. Để tri ơn hai vị tổng thống vĩ đại này, Quốc Hội Hoa Kỳ đã chọn một ngày quốc lễ của đất nước gọi là Ngày Tổng Thống (President’ s Day). Ngày quốc lễ này được ấn định vào Ngày Thứ Hai của tuần lễ thứ ba trong Tháng Hai hàng năm.

Cũng nên biết, vì nhu cầu chiến lược, chính quyền của Cộng Hòa trong thời Tổng Thống Reagan (20/1/1981–20/1/1989) và thời Tổng Thống Bush (bố) (21/1/1989–20/1/1983), phải cấu kết với Nhà Thờ Vatican để lật đổ các chính quyền Cộng Sản ở Ba Lan và nhiều chính quyền Cộng Sản khác ở Đông Âu. Vì thế mới có chuyện Hoa Kỳ trở lại thân thiện với Vatican, nhưng đó cũng chỉ là giai đoạn. Hiến Pháp Hoa Kỳ vẫn giữ nguyên vẹn Tu Chiến Hiên Số 1, trong đó có điều khỏan “tách rời tôn giáo ra khỏi chính quyền”. Vì thế mà Nhà Thờ Vatican không thể lợi dụng sự thân thiện có tính cách giai đọan trong thời Tổng Thống Reagan (1981-1989) và Tổng Thống Bush (1988-1993) để can thiệp vào các công việc của chính quyền. Tuy nhiên, dù là mang lại thành quả như ý muốn của Đảng Cộng Hòa, thì việc cấu kết với Nhà Thờ Vatican cũng làm cho nhân dân Mỹ ghê sợ và tìm cách lánh xa Đảng Cộng Hòa. Cũng vì thế mà trong kỳ bầu cử vào tháng 11/1992, nhân dân Hoa Kỳ bất tín nhiệm Đảng Cộng Hòa và đưa Đảng Dân Chủ lên cầm quyền với hy vọng điều khỏan “tôn giáo tách rời khỏi chính quyền” được triệt để tôn trọng. Xin xem thêm tiểu mục Trường Hợp 12 (Phần VI) trong tập sách Họ và Chúng Ta. Tập sách này đã được đưa lên sáchhiem.net từ ngày 29/12/2008.

7.- Vatican vẫn còn bám chặt lấy Việt Nam, vẫn còn tiếp tục đánh pháp chính quyền và đất nước Việt Nam: Sau ngày 30/4/1975, Hoa Kỳ cuốn gói ra đi khỏi Việt Nam, đứa con đẻ của Giải Pháp Bảo Đại là chính quyền Miên Nam được Hoa Kỳ nuôi dưỡng từ tháng 7/1954 cũng rã đám tan hàng và bọn đầu nậu của các chình quyền tay sai này cũng cuốn gói trốn ra ngọai quốc sống lưu vong giống như Lê Chiêu Thống và bọn tòng vong chạy trốn sang Trung Hoa hồi đầu năm 1789.

Tuy nhiên, kể từ đó cho đến nay, Vatican vẫn còn tiếc rẻ, không chịu buông tha Việt Nam. Cũng vì thế mà Vatican đã liên tục vận dụng khối tín đồ người Việt, đặc biệt là những tín đồ Da-tô người Việt ở hải ngoại làm đủ mọi trò chống phá Việt Nam với dã tâm tạo cơ hội thuận lợi để vận động ngọai cường dùng sức ép can thiệp vào nội tình Việt Nam như Vatican đã làm trong thế kỷ 19. Nếu kế hoạch này thành công, Vatican sẽ dùng bọn “Thà mất nước, chứ không thà mất Chúa” hay “nhất Chúa, nhì cha, thứ ba Ngô Tổng Thống” để thành lập một chính đảng có danh xưng là “Đảng Dân Chủ Thiên Chúa Giáo” và một hai chính đảng ngoại vi khác trong cái chiêu bài gọi là “dân chủ đa nguyên”. Bước kế tiếp, Vatican sẽ dần dần lấn chiếm tiếm đoạt quyền lực ở Việt Nam theo kế sách cổ truyền mà Vatican đã sử dụng từ thế kỷ thứ 4 cho đến ngày nay (Xin xem Phần I ở sau).

Thủ đọan gian manh qủy quyệt này của Vatican đã được sử gia Loraine Boettner trình bày rõ ràng trong cuốn Roman Catholicism với nguyên văn như sau:

“Xuyên suốt chiều dài lịch sử, Giáo Hội La Mã đã tìm cách chiếm đọat quyền lực của nhà nước, nhưng chẳng bao giờ Giáo Hội sẵn sàng từ bỏ quyền lực của Giáo Hội để nhường cho nhà nước. Giáo Hội luôn luôn chống lại việc đóng thuế cho nhà nước, ngay cả tiền thuế đánh vào các tài sản thuần túy dùng vào việc kinh doanh thương mại do chính Giáo Hội làm chủ và chinh Giáo Hội quản lý. Việc Giáo Hội vẫn liên tục can thiệp vào các công việc chính trị ngay cả đến việc bảo trợ cho các đảng phái chính trị của Giáo Hội khi mà thế lực của Giáo Hội đủ mạnh. Thường thường các đảng phái chính trị này có danh xưng là đảng “Dân Chủ Thiên Chúa Giáo” hay một danh xưng khác tương tự. Giáo Hội đã làm như vậy ở các nước Ý, Pháp, Đức, Hòa Lan, Bỉ, v.v… Nhiệm vụ chính của các chính đảng này là chống đối nhà nước. Chắc chắn là Giáo Hội cũng có kế hoạch làm như vậy ở Hoa Kỳ khi mà thế lực của Giáo Hội đủ mạnh ở quốc gia này.” [14]

Ghê gớm hơn nữa, Vatican còn có biệt tài siêu việt về lươn lẹo, lật lọng, đổi trắng thay đen và ăn không nói có. Chuyện Giáo Hội xử lý bà Jeanne d'Arc là một trường hợp đỉển hình trong khu rừng thành tích ghê tởm này của Giáo Hội.

Bà Jeanne d'Arc là một nữ anh hùng của dân tộc Pháp. Vào những năm cuối thập niên 1430, chính quyền Anh liên kết với Giáo Hội La Mã đem quân xâm lăng nước Pháp. Bà Jeane d'Arc chiêu mộ được một số quân lính kháng chiến chống lại liên quân Anh-Vatican. Sau một thời gian chiến đấu anh dũng, bà bị quân Anh bắt được. Người Anh đã tính thả bà ra, nhưng Giáo Hội La Mã lại khăng khăng làm áp lực đòi phải đưa bà ra tòa án dị giáo, vu oan cho Bà là "con mụ phù thủy" và "tà giáo", rồi trói vào một cái cọc thiêu sống bà cho tới chết vào năm 1431. Nhận xét về biệt tài vu oan giá họa của Giáo Hội La Mã trong vụ này, học giả Phan Đình Diệm viết:

“Trong 7 chương tội mà Giáo Hội Công Giáo Roma La-tinh cáo thú, có nhiều tội danh phải kể là “vượt tội” mang cấp số cộng hay cấp số nhân. Ví dụ: Giáo Hội phạm tội A, muốn giấu kỹ và bưng bít tội A, Giáo Hội nhắm mắt phạm thêm tội B để bảo vệ tính bí nhiệm của tội A. Giáo Hội bị cuốn hút vào quy luật giây chuyền của những con bài dominos, Giáo Hội sẽ phạm thêm tội C để bảo vệ (che giấu)) tội A và tộc B…. Thử tưởng tượng từ ngày Giám-mục Pierre Cauchon (đồng âm với con heo) thiêu sống Bà Thánh Jeanne d’ Arc, cho đến ngày Bà được phong thánh là hơn 400 năm, các tòa giảng của Giáo Hội trên khắp cõi Âu Châu phải ăn gian nói dối và vu oan giá họa cho Bà bao nhiều lần? Giết bà cũng một tay Giáo Hội, phong thánh cho Bà cũng một tay Giáo Hội, nhưng có mấy ai được may mắn như Bà. Hầu hết các trọng tội mà Giáo hội phạm tại các “Tòa Điều Tra Dị Giáo” là tội đẻ ra tội theo cấp số cộng và cấp số nhân.”[15]

8.- Vatican vẫn chưa chính thức xin lỗi Việt Nam để nhận lãnh trách nhiệm bồi thường thiệt hại cả về tinh thần lẫn vật chất cho đất nước và nhân dân ta từ giữa thế kỷ 19 cho đến ngày 30/4/1975. Trong khi đó thì Vatican đã chính thức xin lỗi Trung Hoa dù rằng tội ác của Giáo Hội chống phá Trung Hoa nếu đem so với những rặng núi tội ác của Giáo Hội chống lại Việt Nam từ cuối thế kỳ 18 (khi Giám-mục Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc) vận động chính quyền Pháp viện trợ quân sự và tìm quân viện giúp cho Nguyễn Ánh đánh bại nhà Tây Sơn) cho đến ngày 30/4/1975 thì chẳng khác nào như đem một mô đất so với rặng núi Hoàng Liên Sơn.

Tóm lại, NẾU thiết lập quan hệ ngọai giao với Vatican, THÌ sẽ nguy hại vô cùng, và không có một điều nào có lợi cho nước nhà.



Xem tiếp: Chủ Trương Thống Trị Toàn Cầu Của Giáo Hội La Mã



CHÚ THÍCH


--------------------------------------------------------------------------------

[10] Loraine Boettner, Roman Catholicism (Phillipspburg, New Jersey: The Presbyterian and Reformed Publishing Company, 1962), pp 127-128.

[ When the triple crown is placed on the head of a new pope at his “coronation” ceremony the ritual prescribes the following declaration by the officiating cardinal: “Receive the tiara adorned with three crowns, and know what thou art the Father of Pricnces and Kings, Ruler of the World, the Vicar of our Saviour Jesus Christ….” (National Catholic Almanac.)

The New York Catechism says:

“The pope takes the place of Jesus Christ on earth… By divine right the pope has supreme and full power in faith and morals over each and every pastor and his flock. He is the true Vicar of Christ, the head of the entire church, the father and teacher of all Christians. He is the infallible ruler, the founder of dogmas, the author of and the judge of councils; the universal ruler, the arbiter of the world, the supreme judge of heaven and earth, the judge of all, being judged by no one, God himself on earth.”

And pope Leo XIII (1878-1903), in his encyclical, The Reunion of Christendom (1885), declared that the pope holds “upon this earth the place of God Almighty.”

Thus the Roman Church holds that the pope, as the vicar of Christ on earth, is the ruler of the world, supreme not only over the Roman Church itself but over all kings, presidents, and civil rulers, indeed over all peoples and nations. The fact is that on numerous occasions the popes have exercised that authority in countries where the Roman Church was strong. They have excommunicated and deposed kings and governors and, as in the cases of Queen Elizabeth I of England, and Emperor Henry IV of Germany, they have attempted to arouse rebellions by releasing subjects from any alliegiances to their rulers. They have been prevented from exercising such authority in the United States because they do not control here and because our Constitution serves as a shield against such outside interference.

The pope thus demands a submission from his people, and indeed from all people in so far as he is able to make effective, which is due only God. Sometimes that submission takes a particularly servile form, with even the cardinals, the next highest ranking officials in the Roman Church, prostrating themselves before him and kissing his feet! The popes have gone so far in assuming the place of God that they even insist on being call His name. E.g. “the Holy Father,” His Holiness, etc…”]

[11] Loraine Boettner, Ibid., p. 424.

[12] Jack.T.Chick , Smokescreens (Chino, Chick Publications, 1983) tr. 85-86. ["This war would never been possible without the sinister influence of the Jesuits. We owe it to the popery that we now see our land reddened with the blood of her noblest sons. Though there were great differences of opinion between the South and the North on the question of slavery, neither Jeff Davis nor anyone of the leading men of the Confederacy would have dared to attack the North, had they not relied on the promises of the Jesuits, that, under the mask of Democracy, the money and the arms of the Roman Catholic, even the arms of France were at their disposal, if they would attack us. I pity the priests, the bishops and monks of Rome in the United States, when the people realize that they are, in great part, responsible for the tears and the blood shed in this war. I conceal what I know, on that subject, from the knowledge of the nation; for if the people knew the whole truth, this war would turn into a religious war, and it would at once, take a tenfold more savage and bloody character. It would become merciless as all both sides. The Protestants both the North and the South would surely united to exterminate the priests and the Jesuits, if they could hear what Professor Morse has said to me of the plots made in the very city of Rome to destroy this Republic, and if they could learn how the priests, the nuns, and the monks, which daily land on our shores, under the pretext of preaching their religion, instructing the people in their schools, taking care of the sick in the hospitals, are nothing else but the emissaries of the Pope, of Napoleon, and the other despots of Europe, to undermine our institutions, alienate the hearts of our people from our constitution, and our laws, destroy our schools, and prepare a reign of anarchy here as they have done in Ireland, in Mexico, in Spain, and wherever there are any people who want to be free."
"And then President Abraham Lincoln went on to say: "Is it not an absurdity to give a man a thing which is sworn to hate, curse, and destroy? And does not the Church of Rome hate, curse and destroy liberty of conscience whenever she can do it safely? I am for liberty of conscience in its noblest, broadest, highest sense. But I cannot give librerty of conscience to the Pope and to his followers, the Papists, so long as they tell me, through all their councils, theologians, and canon laws, that their conscience orders them to burn my wife, strange my children, and cut my throat when they find their opportunity! This does not seem to be understood by the people today. But sooner or later, the light of common sense will make it clear to every one that no liberty of conscience can be granted to men who are sworn to obey the Pope, who pretends to have right to put death those who differ from him religion." ]

[13] Lê Hữu Dản, Sự Thật (Đặc San Xuân Đinh Sửu 1997), (Fremont, CA: TXB: 1997), tr 28-29.

[14] Loraine Boettner, Ibid., p.15. [“Throughout history the Roman Church has sought to gain power from the state, but has never willingly relinquished power to the state. It has always resented paying taxes to the state, even on purely commercial properties that are owned and operated by it, and it has resented any law requiring priests to pay income taxes. The continual meddling on the Roman Church in politics, even to the extent of sponsoring Roman Catholic political parties where it is strong enough to do so (usually known as the “Christian Democratic” party, or similar name, as in Italy, France, Germany, Holland, Belgium, etc.), has caused much resentment. That, no doubt, is also its plan for the United States if and when it becomes strong enough. …”]

[15] Phan Đinh Diệm,”Mea Culpa – Giáo Hội Công Giáo Roma La-tinh Cáo Thú Tội Lỗi Ngàn Năm.” www.kitohoc.com/Bai/Net066.html Ngày 4/5/2000.

[16] Loraine Bottner, Ibid., tr. 130




Trang Nguyễn Mạnh Quang
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
-=SVN=-
Tổng Tư Lệnh
Tổng Tư Lệnh
avatar

Biệt danh : Đại Tướng
Chức Vụ : Chủ Tịch

Tổ chức
Huân chương
Cống hiến : 307
Đồng : 100751
Vinh danh : 3
Gia nhập : 22/03/2010

Dân tộc : Việt Nam
Phương châm : Yêu trong không tiền !

Bài gửiTiêu đề: Re: Tâm Thư Gửi Nhà Nước Việt Nam   Mon Mar 22, 2010 7:08 pm

Tâm Thư Gửi Nhà Nước Việt Nam

Nguyễn Mạnh Quang

bản in ¿ trở ra mục lục 29 tháng 3, 2009


PHẦN II

CHỦ TRƯƠNG THỐNG TRỊ TOÀN CẦU
VÀ NÔ LỆ HÓA NHÂN LOẠI CỦA VATICAN



Phần này nói về chủ trương thống trị tòan cầu và nô lê hóa nhân loại của Vatican cùng những sách lược và kế họach của thế lực này để Vatican để đạt được tham vọng bất chính trên đây. Phần này gồm có:

Chương 3: Chủ trương thống trị toàn cầu và nô lệ hóa nhân loại của Vatican (25)

Chương 4: Những nỗ lực thuyết phục Pháp cấu kết với Vatican đánh chiếm Việt Nam (32)

Chương 5: Vatican nỗ lực thuyết phục Pháp cấu kết với Vatican đánh chiếm Việt Nam (38)

Chương 6: Những động lực hay lý do khiến cho người Việt Nam theo đạo Ca-tô (43)

Chương 7: Tín đồ Ca-tô bản địa được Vatican rèn luyện như thế nào? (74)

Chương 8: Hậu quả của chính sách đào tạo người của Vatican (85)

Chương 9: Tội ác của giáo dân người Việt đối với tổ quốc và dân tộc Việt Nam. (100)

Chương 10: Sự khác nhau giữa giáo dân Âu Châu và giáo dân người Việt (128)



◎◎◎


CHƯƠNG 3

Chủ trương thống trị toàn cầu và nô lệ hóa nhân loại của nhà thờ.



Các nhà sử học chuyên nghiên cứu về Giáo Hội La Mã đều khẳng đinh rằng Vatican có chủ trương thống trị toàn cầu và nô lệ hóa nhân loại. Chủ trương này được thể hiện qua (1) lời tuyên bố của Giáo Hoàng Leo I (440-461) tuyên bố vào năm 451 rằng “Quyền hành của giáo hoàng phải bao trùm lên tất cả quyền hành của các nhà cầm quyền thế tục”, (2) bản tuyên cáo "Dictatus papae" được ban hành trong thời Giáo Hoàng Gregory VII (1073-1085) [sẽ được nói rõ nơi Chương 12 ở sau], và (3) hàng loạt các thánh lệnh hay sắc chỉ được ban hành trong thế kỷ 15. Các thánh lệnh hay sắc chỉ này được nhà viết sử Vũ Ngự Chiêu dưới bút hiệu là Nguyên Vũ ghi lại với tựa đề là “Các Thánh Lệnh Phân Chia Thế Giới” trong cuốn Ngàn Năm Soi Mặt (Houston, TX: Văn Hóa, 2002) nơi các trang 389-393. Dưới đây là nguyên văn những đoạn nói về phần chính yếu của các thánh lệnh này:

► Các Thánh Lệnh Phân Chia Thế Giới

"Các giáo hoàng đầu tiên của thời Phục Hưng [Renaissance] còn dùng thần quyền để phân chia những vùng đất "mọi rợ" mà Portugal và Espania bắt đầu đi xâm chiếm ở duyên hải Tây Phi Châu (1416) hay "lục địa đã mất" Mỹ Châu (thập niên 1480-1490):

"Đó là các Thánh lệnh (bulls): Dudum and nos (1436) và Rex Regum (1443) của Eugene IV (1431-1439, 1439-1447 [antipope Felix V (1439-1447)]; Divino amore communiti (1452) và Romanus Pontifex (8/1/1454) của Nicholas V (1447-1455), Inter Catera (1456) của Callistus III (1455-1458), Aeterni Regis (1481) của Sixtus IV (1471-1484); và nhất là những giáo lệnh (Papal bulls) của Alexander VI (1492-1503) trong hai năm 1493-1494, như Inter Caetera ngày 3-4/5/1493, và Dudun sequidem ngày 26/9/1493. (Inter Caetera ngày 4/5/1493 in trong Corpus của Luật Tòa Thánh Ki-tô, tức Catholic canon law); Luis N. Rivera, Aviolent Evangelism: The Political and Religious Conquest of the Americas [Chính sách truyền đạo bằng bạo lực: Cuộc chinh phục chính trị và tôn giáo châu Mỹ] (Louisville, Kentucky: Wesminster/ John Knox Press, 1992), tr.24-5, 28-9; H. Vander Linden, "Alexander VI and the Demarcation of the Maritime and Colonial Domains of Spain and Portugal, 1493-1494" [Alexander VI và sự phân chia lãnh hải và thuộc địa giữa Espania và Pooc-tiu-gơn, 1493-1494];" American Historical Review [AHR], Vol. XXII, No. 1 (Oct. 1916), pp. 1-20; John Fiske, The Discovery of America, 2 vols (Boston: Houghton, Mifflin & Co., 1892) I:324-6, 454-68; Phụ bản B, II:580-93.

[Bartolemi?] La Casas trong cuốn Historia de las Indias, nói đến việc năm 1442, sau khi Antonio Goncalves mang vàng và nô lệ từ Rio del Oro (Phi Châu) về Portugal, triều đình Portugal của Henry the Navigator xin Giáo Hoàng "Martin V" ban cho một thánh lệnh độc quyền chiếm hữu đất đai và nô lệ, và sau đó các Giáo Hoàng Eugene IV, Nicholas V, Calixto IV đều tái xác nhận (I:85). Thực ra, Las Casa đã lầm lẫn đôi chút, vì Martin (1417-1431) đã chết trước đó 11 năm, và người ban thánh lệnh buôn nô lệ chính là Eugene IV. (Fiske 1892, I:325nl). Nhiều tác giả đã sao lại lỗi kỹ thuật của Las Casas.

Thánh lệnh ngày 8/1/1854, ban cho Vua Portugal tất cả những lãnh thổ khám phá ra "trong vùng đại dương tới những vùng phía Nam và Đông" mà các vua theo đạo Ki-tô chưa hề tìm thấy hay sở hữu. (Alguns Documents do Archivo Nacional da Torre do Tombo [Lisbon: 1892] tr. 15-6; dẫn trong Linden 1916, tr.12).

Thánh lệnh ngày 21/6/1481 của Sixtus IV lập lại những lệnh kể trên, và phê chuẩn hòa ước Alcacovas năm 1479 giữa Espania và Portugal (linden 1916, tr. 12n28).

Thánh lệnh của các giáo hoàng ban cho vua Ki-tô người Portuguese những "quyền" tại các vùng đất chiếm đóng được ở Africa: (1) chủ quyền lãnh thổ tại các vùng mới được khám phá ra hoặc chiếm đóng; (2) quyền được giáo hội ban phép lành; (3) quyền được thu thuế [tithes] tại những vùng đất mới; (4) quyền được truyền giảng đạo Ki-tô; và (5) quyền bắt thổ dân làm nô lệ. (Morales Padron 1979, 16; dẫn trong Rivera 1992:28).

Ngoại trừ điều khoản bắt thổ dân làm nô lệ trong các thánh lệnh trên, nội dung của bốn thánh lệnh mà Alexander VI ban phát (grant and donation in perpetuity) cho Espania cũng tương tự. (Leturia 1959:I:153-204, dẫn trong Rivera 1992:29).

Theo Manzano (1948, 8-28), thánh lệnh trong hai ngày 3-4/5/1493 như sau: Thánh lệnh thứ nhất (Inter caetera ngày 3/5/1493) ban phát những vùng đất mới cho Espania; thánh lệnh thứ hai phân chia vùng quyền hạn (jurisdictions) giữa hai vua Espania và Portugal để tránh những tranh chấp (Inter caetera ngày 4/5/1493); và thánh lệnh thứ ba (Dudun siquidem ngày [26]/9/1493), nới rộng vùng đất ban phát tới Đông Ấn (Oriental Indies), mục tiêu đích thực của phong trào thám hiểm và khám phá (tức hạn chế Portugal tại những vùng đã chiếm được trước năm 1492). Do yêu cầu của Ferdinand V va Isabella, Alexander VI còn ban hành một thánh lệnh khác, Eximiae devotionis đề ngày 3/5/1493, [chỉ gửi đi vào tháng 7/1493 (Register 879:234)], nhấn mạnh hơn cả hai thánh lệnh Inter caetera ngày 3-4/5/1493 [đã được gửi đi từ tháng 4 (Register 775:42 verso) và tháng 6/1493 (Register 777:192 verso)] và tổng hợp nội dung của hai thánh lệnh trên.

Khi vua John của Portugal chống lại bốn thánh lệnh trên, thương thuyết giữa hai nước bắt đầu từ ngày 18/8/1493. Ngày 7/6/1494, Espania và Portugal ký Hiệp Ước Tordesillas, sửa lại đường phân chia thế giới. Espania đồng ý nhượng cho Portugal xứ Brazil; tức đường ranh giới thế giới dời về hướng Tây thêm 10 kinh độ (từ khoảng 36'30 Tây tới 46'30 Tây, [tương đương với 270 hải lý, cách bờ Tây Quần Đảo Cape Verde khoảng 370 hải lý]. Giáo Hoàng Julius (1503-1513) chấp thuận hiệp ước này bằng thánh lệnh Es Quae năm 1506.

Bốn thánh lệnh của Giáo Hoàng Alexander VI - Inter Caetera (3-4/5/1493), Eximaiae devotionis (3/5/1493), và Dudun Siguidem (26/9/1493) - được in lại trong nhiều tác phẩm Espania, như Marin Fernandez de Navarete, Colección de los viages y descubrimientos que hicieron por mar los espanoles, desde fines del s. XV. 2 tập (Buenos Aires: Editorial Guarania, 1945), 2:34-49, 467-468) và Casas 1965 (2:1277-1290). Bản dịch tiếng Mỹ có thể tìm thấy trong Fiske, 1892, Appendix B; và Frances G. Davenport, European Treaties Bearing on the History of the United States and Its Dependencies to 1648, 4 vols. (Washington: Carnegie Institution, 1917) (I:64-70, 84-100, 107-111).

Mặc dù vài tư liệu đã bị gọi sai lầm là "bulls" (Thánh lệnh hay Thánh luật), như Manuel Gimenez Fernandez (1944, xiii) nhận định, chúng tôi dùng chữ "Thánh lệnh" như thường dùng (thay vì sắc chỉ, vì thuật ngữ này không sát nghĩa).

Có 3 khuynh hướng diễn giải về vai trò của Giáo Hoàng: (a) Giáo Hoàng là người trọng tài trong các cuộc tranh chấp Espania-Portugal; (b) Giáo Hoàng là chánh án tối cao giải quyết sự tranh chấp giữa Espania và Portugal; (c) Giáo Hoàng chẳng có quyền lực gì, chỉ chấp nhận một thực tế (Linden 1916: 2-3)..

Manuel Gimenez Fernandez (1944), người nghiên cứu về các thư từ của Giáo Hoàng - trong cách diễn tả khá khác thường so với các sử gia Ki-tô Vatican người Espania - cho rằng có một cuộc trao đổi (simoniacal exchange) giữa Alexander VI và Fernando [Ferdinand] V, để có được những cuộc hôn nhân đầy lợi lộc cho các con ông ta (his sacriligious sons), đặc biệt là gã vô lại (the bastard) Juan de Borgia. Quận công xứ Gandia (lấy Maria Enriquez, em họ Ferdinand V). Tác giả nhận định: "Như vậy Inter Caetera ngày 3/5 chỉ là bước đầu của liên hệ gia đình giữa các vua xứ Aragon (Tây Ban Nha) và đứa con hoang của Alejandro Borgia (Alexander VI) [Thus the Inter Caetera on May 3 is, then, but the first stage of the kinship between the monarchs of Aragon and the favorite sacriligious son of Alejandro Borgia] (Gimenez Fernandez 1944, 86-87)."

Sau Alexander VI, Kitô giáo được triều đình Espania và các quốc vương Kitô khác sử dụng như ý thức hệ nòng cốt của chính sách thực dân, tức tiếp nối tinh thần "thập tự quân" mới: Di chúc của Nữ Hoàng Isabel (1504), Luật Burgos (1512), yêu sách [Requerimiento] (1513), Tân Luật [Leyes Nuevas],cuộc tranh luận Valladolid (1550-1551), các sắc lệnh về những xứ và thành phố mới khám phá trong thời Felipe II (1573), và cuối cùng là Bộ Luật về thổ dân [Compilation of the Laws of the Indies] năm 1680 dưới thời Carlos II.

Thánh lệnh của Alexander VI trở thành căn bản "pháp lý" của những cuộc chinh phục Mỹ và Á Châu trong thế kỷ XVI-XVII. Năm 1530, chẳng hạn, vua Joao III viết cho Đại Sứ Pháp:

"Tất cả những chuyến du hành thám hiểm trên biển và trên đất liền đều có cơ sở pháp lý [tức quyền sở hữu], căn cứ vào các thánh lệnh mà các Thánh Cha đã ban phát từ xưa... dựa trên những pháp lý vững chắc, và vì thế [những vùng đất khám phá được] là tài sản hợp pháp của Ta và ngôi vua vương quốc [Espania], [chúng] đang yên ổn nằm trong quyền sở hữu của Ta; không ai có thể xâm phạm chúng trong lẽ phải và công lý." [Zavala (1971, 348)].

Một số quốc gia Âu Châu không tán thành và không nhìn nhận những thánh lệnh này. Năm 1540, Vua Francis I (1497-1547) của nước Pháp mỉa mai: "Ta sẽ rất hân hoan nếu thấy trong lời chứng của Adam có câu lọai Ta ra khỏi một phần chia chác của thế giới." (Leturia 1959, I:280). Jean Francois Marmontel, một nhà bách khoa tự điển Pháp, cáo buộc thánh lệnh của Alexander VI là "tội ác lớn nhất trong số các tội ác của nhà Borgia." (Hoffner 1957, 268).

Nữ Hoàng Elizabeth I của Bri-tên cũng không dấu lòng bất mãn, nhấn mạnh rằng "Ta không thể tin rằng dân bản xứ là sở hữu hợp pháp của Espania do thánh lệnh của một giáo hoàng ở Rome, mà Ta không nhìn nhận quyền hạn về vấn đề này, và lại càng không tin ông ta có thể ràng buộc được các vua không thuần phục ông ta." (Zorraqufn Becu 1975, 587)” [1]

Một trong những thánh lệnh (cũng gọi là sắc chỉ) này là Sắc Chỉ Romanus Pontifex được ban hành vào ngày 8/1/1454 trong thời Giáo Hoàng Nicholas V (1447-1455). Nội dung của sắc chỉ được Linh-muc Trần Tam Tỉnh ghi lại trong cuốn Thập Giá và Lưỡi Gươm như sau:

"...., quyền lợi của Bồ Đào Nha đã được phân định rõ ràng trong sắc chỉ "Romanus Pontifex" do Đức (Giáo Hoàng) Nicholas V (1447-1455) ra ngày 8 tháng Giêng năm 1454. Theo quyền lực Chúa ban và quyền lực của Tòa Thánh, Đức Giáo Hoàng ban cho triều đình Lisbon (Bồ Đào Nha) "toàn quyền tự do xâm lăng, chinh phục, chiến đấu, đánh giặc và khuất phục tất cả các quân Sarrasins (tức người Ả Rập), các dân ngoại đạo và các kẻ thù khác của Giáo Hội, gặp bất cứ nơi nào: được toàn quyền chiếm cứ tất cả các vương quốc, lãnh địa, vương hầu, đất đô hộ và tài sản của chúng; toàn quyền chiếm đoạt tất cả của nổi và của chìm của chúng và bắt tất cả chúng nó làm nô lệ vĩnh viễn."

Khi ban quyền cho người Bồ Đào Nha được chiếm mọi thứ lợi lộc kể trên, Giáo Hoàng đồng thời cũng muốn mở mang nước Chúa sang các miền xa xôi. Và để nhà vua Bồ Đào Nha yên tâm hơn, Giáo Hoàng ra lệnh cấm không một ai khác được phép đặt chân tới các vùng đất ấy nếu không có phép của nhà vua, dành cho nhà vua độc quyền buôn bán và ra vạ tuyệt thông tức khắc cho bất kỳ ai dám hành động ngược lại."[2]

Tất cả những sắc chỉ hay thánh lệnh được ban hành trong thế kỷ 15 đều có nội dung tương tự như nội dung Sắc Chỉ Romanus Pontifex. Nội dung của các sắc chỉ này được Tiến-sĩ Cao Huy Thuần tóm lược bằng mấy đoạn văn trong cuốn Đạo Thiên Chúa và Chủ Nghĩa Thực Dân Tại Việt Nam như sau:

1.- “Ngay từ thế kỷ 15, người ta đã thấy chính sách Giáo Hoàng đưa ra cho tín đồ là nghĩa vụ xâm lăng để thu người vào đạo. Vì thế với điều kiện mang theo các thày tư tế để “mang thông điệp của đấng Ki-tô”, người Bồ Đào Nha được Giáo Hoàng Martin V, bằng một sắc lệnh năm 1449, cấp cho tất cả đất đai họ tìm ra được giữa châu Phi gồm cả Ấn Độ nữa.”

2.- “Henry Martin viết: “Sắc lệnh được xuất phát từ nguyên lý rằng đất thuộc về Chúa Ki-tô và người đại diện của Chúa Ki-tô có quyền sử dụng tất cả những gì không do tín đồ của Chúa chiếm hữu. Những kẻ ngoại đạo không thể là kẻ chiếm hữu hợp lý bất cứ một mảnh đất nào. Phần đất được ban cấp (vốn – NMQ) nằm trong tay những kẻ đã mặc nhiên khiến cho họ tuân phục trước hạnh phúc lớn hơn, trước việc họ đổi đạo dù tự ý hay bị cưỡng bách theo luật Thiên Chúa.”

3.- “Sau này bằng Sắc Lệnh 1493, Giáo Hoàng Alexandre VI đã chia thế giới cho người Bồ Đào Nha cùng Tây Ban Nha và buộc có nghĩa vụ truyền đạo Chúa Ki-tô để biện minh cho mọi sự chiếm đóng. Sắc lệnh này đặt rõ ràng bổn phận giảng đạo cho người bản xứ là điều kiện để chiếm hữu.”[3]

Trong đoạn văn 1, chúng ta thấy có một điểm sai lầm trong cụm từ “người Bồ Đào Nha được Giáo Hoàng Martin V, bằng một sắc lệnh năm 1449…” Sai lầm vì Giáo Hoàng Martin V tại ngôi trong những năm 1417-1431, vậy thì việc ban hành sắc Lệnh vào năm 1449 phải là do Giáo Hoàng Nicholas V (1447-1455), chứ không phải do Giáo Hoàng Martin V (1417-1431). Các nhà nghiên cứu về lịch sử Giáo Hội La Mã đều nhận thấy như vậy, cho nên họ đã ra công tìm hiểu và đã tìm ra nguyên nhân của sự sai lầm này. Vấn đề này được Tiến-sĩ sử gia Vũ Ngự Chiêu ghi lại trong "Ngàn Năm Soi Mặt" với nguyên văn như sau:

“[Bartoleme] Las Casas trong cuốn Historia de las Indias, nói đến việc năm 1442, sau khi Antonio Goncalves mang vàng và nô lệ từ Rio del Oro (Phi châu) về Portugal, triều đình Portugal và Hoàng Tử Henry the Navigator xin Giáo Hoàng “Martin V” ban cho một thánh lệnh độc quyền chiếm hữu đất đai và nô lệ, và sau đó các Giáo Hoàng Eugene IV (1431-1447) Nicholas V (1447-1455) Calixto III (1455-1458) đều tái xác nhận (I:185). Thực ra, Las Casas bị lầm lẫn đôi chút, vì Martin V (1417-1431) đã chết trước đó 11 năm và chính Eugene IV (1431-1447) ban thánh lệnh buôn nô lệ (Fi ke 1892, I:325n1). Nhiều tác giả đã sao lại lỗi kỹ thuật của Las casa.

Thánh Lệnh 8/1/1454, ban cho vua Portuguese tất cả những lãnh thổ khám phá ra “trong vùng đại dương tới những vùng phía Nam và Đông” mà các vua theo đạo Ki-tô chưa hề tìm thấy hay sở hữu. Alguns Documentos do Archivo Nacional da Toorre do Tombo [Lisbon: 1892] tr. 15-6, dẫn trong Linden 1916, tr. 12).”[4]

Sau đó, Bồ Đào Nha lại thành công trong vỉệc tìm ra hải lộ đi từ Tây Âu đến Á Châu bằng cách đi theo ven biển Tây Phi vòng qua Mũi Hảo Vọng ngược lên phía Bắc theo ven biển Đông Phi, băng qua eo biển Mozambique, rồi tới biển Á Rập đển Ấn Độ, Mã Lai và Quần Đảo Hồ Tiêu (Nam Dương). Vì những thành công này, Giáo Hội lại ban hành thêm một loạt thánh lệnh tiếp theo để xác nhận những đặc quyền ăn cướp của Bồ Đào Nha ở tất cả nơi nào mà đế quốc này có thể đem quân đến chinh phục với điều kiện là phải "mở mang nước Chúa", nghĩa là phải cho Giáo Hội ăn có.

Nhờ việc khám phá ra hải lộ này và nhờ được Giáo Hội ban đặc quyền độc chiếm hải lộ này để làm ăn, Bồ Đào Nha trở thành một nước giầu có nhất ở Âu Châu vào thời bấy giờ. Sự giầu có của Bồ Đào Nha khiến cho người dân Âu Châu (mà đa số là Tây và Nam Âu), nghĩ rằng Ấn Độ và Trung Hoa hẳn là những nơi vô cùng giầu có, ở đâu cũng có vàng, đầy dẫy những tơ lụa, gấm vóc. Cũng vì thế mà thời đó có rất nhiều người Âu Châu nỗ lực tìm đường đi tới Á Châu bằng cả đường bộ (gọi là con đường tơ lụa) và đường thủy hay đường biển (gọi là con đường hồ tiêu).

Do sự tiếp xúc với dân Đông Phương (Đông và Nam Á Châu), họ thấy rằng đồ ăn của người Á Châu có những hương vị thơm phưng phức rất là "khoái khẩu", người phụ nữ Đông Phương có vẻ đẹp dịu dàng, duyên dáng, dễ thương và có tinh thần thuần phục người chồng hơn là người phụ nữ Âu Châu. Những thứ này quả thật là vô cũng hấp dẫn đối với các đấng trượng phu người Âu Châu. Từ đó, ở Âu Châu nẩy sinh ra phong trào đi đến tận Á Châu để được chứng kiến cảnh giầu có huy hoàng ở Á Châu, được ăn những miếng ăn ngon của người Á Châu, nhìn thấy tận mắt những cảnh đẹp và người đẹp của Á Châu, và đặc biệt nhất là để bốc hốt của cải ở Á Châu giống như Bồ Đào Nha đã làm.

Cũng nên biết là vào thời kỳ đó, trong khi Giáo Hội La Mã và tín đồ Da-tô vẫn còn khăng khăng tin rằng trái đất bằng phẳng và là trung tâm của vũ trụ, thì đã có rất nhiều người đều tin rằng trái đất có hình tròn như trái cầu, tự xoay quanh với một chu kỳ mõi ngày một vòng và di chuyển chung quanh mặt trời theo một quỹ đạo hình bầu dục theo một chu kỳ 365 ngày và 6 giờ.

Vì biết rằng trái đất tròn, cho nên người Âu Châu mới cho rằng có thể dùng hải lộ từ bờ biển Đại Tây Dương ở Âu Châu đi theo hướng Tây và cứ đi hoài sẽ đến Á Châu, tức là sẽ đến Trung Hoa và Ấn Độ. Một trong những người tin như vậy là nhà hàng hải Christopher Columbus (1451-1506), người Ý Đại Lợi. Columbus đã soạn thảo một dự án gồm ba chiếc tầu và một số thủy thủ để thực hiện chuyến đi này và đã đệ trình lên một vài tiểu vương trong các tiểu vương của các tiểu quốc nằm trên bán đảo Ý Đại Lợi. Nhưng vì nước Ý lúc đó chưa thống nhất, có nhiều tiểu quốc riêng rẽ và có nhiều tiểu quốc gọi là Papal States nằm dưới quyền thống trị trực tiếp của Tòa Thánh Vatcian. Các tiểu quốc này vừa nhỏ, vừa nghèo, không đủ khả năng tài trợ cho dự án của ông.

Thất vọng, nhà hàng hải Columbus đành phải mang dự án của ông đến Tây Ban Nha trình lên triều đình Tây Ban Nha và được Hoàng Đế Ferdinand V (1452-1516) cùng Hoàng Hậu I sabella I (1451-1504) đồng ý tài trợ cho ông ba chiếc tầu Santa Maria, Nina và Pinta với một thủy đoàn khoảng 90 người (40 người trong chiếc tầu chỉ huy Santa Maria, 25 người cho chiếc Nina và 25 người cho chiếc Pinta).

Khởi hành từ Tây Ban Nha vào ngày Thứ Sáu 3 tháng 8 năm 1492, ba chiếc tầu này cắm cờ Tây Ban Nha (nằm dưới quyền bảo trợ của Tây Ban Nha) ngày đêm vừa chèo, vừa trương buồm cứ theo hướng tây thẳng tiến. Mãi tới ngày Thứ Sáu 12 tháng 10 năm đó, đoàn tầu này mới đến Mỹ Châu và đổ bộ lên đảo San Salvador (một trong những hòn đảo nằm ở phía Bắc hòn đảo Cuba và Đông Nam bán đảo Florida).

Mục đích của đoàn tầu này là đi đến Ấn Độ ở Á Châu. Cũng vì thế mà khi mới tới hòn đảo San Salvador họ tưởng lầm rằng họ đã đến đất Ấn Độ, cho nên họ mới gọi vùng này là West Indies (Tây Ấn) và gọi thổ dân ở đây là "Indians" (người Ấn Độ).

Thấy rằng Tây Ban Nha đã tìm ra một vùng đất mới còn ngờ là đất Ấn Độ và cũng tin rằng vùng đất mới này cũng giầu có, có nhiều vàng bạc, châu báu, miếng ngon của lạ như ở Ân Độ và Trung Hoa, Giáo Hội La Mã lại tìm cách "nhẩy vào ăn có" bằng cách ban hành một Thánh Lệnh vào tháng 5 năm 1493 với chủ đích là ban cho Tây Ban Nha những đặc quyền y hệt như những đặc quyền mà Giáo Hội đã ban cho Bồ Đào Nha ghi trong Thánh Lênh Romanus Pontifex được công bố vào ngày 8 tháng 1 năm 1454 trong thời Giáo Hoàng Nicholas V (1447-1454). Việc này gây nên sự tranh chấp giữa Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha về "cái quyền đem quân chiếm đất, giết người, đoạt của, hãm hiếp đàn bà con gái và mở mang nước Chúa ở ngoài lục địa Âu Châu".

Nội vụ được đưa lên Tòa Thánh La Mã phân xử. Việc này được Giáo Hoàng Alexander VI (1492-1503) giải quyết bằng cách chia đôi địa cầu để ban cho hai quốc gia này, mỗi quốc gia được quyền chiếm một nửa. Sự kiện này được Linh-mục Trần Tam Tỉnh ghi lạ này như sau:

"Năm 1492, Christophe Colombo khám phá ra những vùng đất mới mà ông nghĩ là Ấn Độ. Một nửa thế kỷ trước đó, thương thuyền Bồ Đào Nha cũng đã chạy dọc theo bờ biển phía Tây Châu Phi. Ít năm sau, năm 1497, Vasco de Gama, người Bồ Đào Nha, đã phát hiện đúng con đường sang Ấn Độ.

Ngày 4 tháng 5 năm 1493, qua sắc chỉ "Inter caetera" ("giữa những điều khác"), Giáo Hoàng Alexander VI giao quyền chinh phục các vùng đất kể trên mà các dân Phương Tây chưa từng biết, cho các triều đình nước Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Tây Ban Nha có quyền đi chiếm tất cả các đất đai gặp được ở một trăm dặm kể từ quần đảo Azores, còn Bồ Đào Nha, tất cả các nước nằm ở mạn Đông đường ranh đó (quần đảo Azores ở mạn giữa cắt đôi Đại Tây Dương).[5]

Tính ra từ năm 1454 cho đến năm 1493, Tòa Thánh Vatican ban hành một loạt gần 10 thánh lệnh liên quan đến việc ban phát các đặc quyền cho hai nước Bồ Đào Nha và Tấy Ban Nha đem quân đi đánh chiếm đất đai ở ngoài Âu Châu để làm những viện làm đại gian, đại ác và cực kỳ dã man đúng như tinh thần Sắc Chỉ Romanus Pontifex như đã nói ở trên với mục đích duy nhất là phục vụ cho tham vọng đế quốc của Vatican cũng như bản thân đế quốc Tây Ban Nha và Bô Đào Nha.

Phần trình bày trên đây cho thấy rõ là Giáo Hội La Mã hay Vatican quyết tâm theo đuổi tham vọng thống trị toàn cầu đúng như lời sử gia Loraine Boettner đã ghi nhận:

“Mục tiêu của họ (giới tu sĩ Da-tô) không phải chỉ nhắm vào những đặc quyền đặc lợi để được sống trong huy hoàng và buông thả với những thú vui nhục dục. Thực ra, trong giới người này, cũng có những người sống khắc khổ. Nhưng mỗi người trong họ đều mang căn bệnh khát vọng quyền lực và tự cho mình là thành phần trong thế lực thống trị toàn cầu. Vì đã mất đi khả năng của tình yêu, họ tìm đến thú vui trong sự sợ hãi của những người đồng đạo (đồng bào) và người ta càng hèn hạ sợ hãi họ bao nhiêu thì họ càng thích thú say mê bấy nhiêu. Đã có người nào đặt ra vấn đề là phải chăng sự an toàn của giai cấp tu sĩ đòi hỏi phải có một cái hố ngăn cách không thể nào vượt qua được? Đó là sự cách biệt giữa một bên là những giáo dân đứng đắn đàng hoàng và một bên là những người có tâm địa của loài chó sói, những người không có Chúa mà chỉ có Lòng Tham Lam, không có tôn giáo mà chỉ biết đến Quyền Lực.” (Christian Heritage, May, 1959.)” Nguyên văn: “Their objective is not merely a life of privilege, luxury, an carnal sel-indulgence. In fact, there are among them, men of rigid ascetic character. But each every man of them is driven by an insatiable lust for power. Each sees himself as a factor to be reckoned with in a globe dominating force. Having lost the capacity for love, they seek the fear fellow men – the more abjec, the headier. Is it any wonder that hierarchy’s own security demands an impassable gulf between decent well-meaning Catholic people and these men with the hearts and spiritual of wolves, these men with no God but Greed, no religion but Power?” (Christian Heritage, May, 1959.)”[6]

◎◎◎



Xem tiếp: Kế Hoạch Đánh Chiếm Việt Nam



--------------------------------------------------------------------------------

CHÚ THÍCH

[1] Nguyên Vũ. Ngàn Năm Soi Mặt (Houston, Texas: Văn Hóa, 2002), trang 389-393.

[2] Trần Tam Tỉnh, Thập Giá và Lưỡi Gươm (Paris: Nhà Xuất Bản Trẻ, 1978), trang 14-15.

[3] Cao Huy Thuần, Đạo Thien Chúa và Chủ Nghĩa Thực Dân Tại Việt Nam (Los Angeles, CA: Huong Quê, 1988), tr. 7. Tác gi? Cao Huy Thu?n ghi rõ do?n văn 1 l?y ý t? trong trang 61 trong Sociologie Coloniale – T?p II (Paris, Domat – MontChrétien, 1936) c?a tác gi? R?n Maunier, đo?n văn 2 l?y ý t? trang 293 trong cu?n Histoire de France – T?p VII (Paris, Fune), và do?n 3 l?y ý t? trong trang 6-63 trong cùng cu?n sách Sociologie Coloniale – T?p II c?a tác gi? René Maunier ? trên.

[4] Nguyên Vũ, Ngàn Nam Soi Mặt (Houston, TX: Văn Hóa, 2002), tr. 389-390.

[5] Trần Tam Tỉnh, Sđd., trang 14.

[6] Loraine Boettner, Ibid., p.64.






Trang Nguyễn Mạnh Quang

http://sachhiem.net/NMQ/TAMTHU/NMQtt_Main.php
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Tâm Thư Gửi Nhà Nước Việt Nam   

Về Đầu Trang Go down
 
Tâm Thư Gửi Nhà Nước Việt Nam
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Liên Minh Các Lực Lượng Quốc Gia Việt Nam :: Thông Tin Khác ! :: Các Thông Tin :: Bàn Luận :: Tôn Giáo-
Chuyển đến